Đến ngày 20/04 cơ quan phân công tôi đi ca thì tôi chấp hành theo (làm ca 24h nghỉ 24h). Đến ngày 24/04 tôi có hỏi giám đốc là tôi đã chấp hành theo sự phân công nhưng từ thỏa thuận ban đầu là tôi làm hành chánh trong thời gian thử việc tôi đi theo ca thì lương tôi sẽ thế nào? Giám đốc nói là không có thay đổi gì và tôi làm thì làm không làm thì nghỉ. Vì tuổi trẻ nông nổi nên tôi đã nghỉ việc. Tới ngày 4/05 tôi lên lãnh lương thì giám đốc bảo tôi suy nghĩ kỹ và có thể đi làm lại. Thì ngày 6/05 tôi bắt đầu làm việc trở lại và lúc này không có thêm thỏa thuận nào. Từ đó tới nay tôi luôn chấp hành tốt nội quy của công ty. Tới ngày 30/07 sau khi lãnh lương tôi lên hỏi giám đốc là tôi đã ký hợp đồng chưa? ( vì đã quá 2tháng thử việc) thì được giám đốc trả lời là vì tôi nhỏ nên theo đặc thù công việc tôi không thể trực đêm 1mình được nên việc ký hợp đồng là hơi khó. Nếu ký hợp đồng mà tôi đi hành chánh và mức lương tôi bằng mấy cô trực 24h nghỉ 24h sẽ phân bì. Giám đốc bảo tôi tạm thời nghỉ 1tháng không lương chờ tháng 9 sẽ triển khai chương Methadon thì tôi vào làm. Nhưng thử hỏi trong tháng nghỉ chờ việc như thế tôi sẽ ăn gì? Tiền nhà ở thế nào? Và còn khoản khác nữa. Xin luật sư cho tôi hỏi :

1. Tôi đã được xem là đã ký hợp đồng lao động chưa?

2. Tôi nghỉ như vậy có được hửơng lương không?

3. Nếu tôi không chấp nhận nghỉ không lương mà tôi nghỉ để tìm việc mới thì tôi có được quyền lợi gì không?

4. Tôi muốn đòi hỏi quyền lợi mà người lao động như tôi thì tôi phải làm thế nào?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn Luật Lao động của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn Luật Lao độnggọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Đối với vấn đề bạn thắc mắc chúng tôi xin được trả lời như sau:

1, Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Lao động 2012 

Nghị định số 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều luật của Bộ luật Lao động 2012

2, Nội dung tư vấn:

Theo Điều 29 Bộ luật Lao động 2012 quy định về việc kết thúc thời gian thử việc như sau:

'' Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.''

Nghị định số 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn về thông báo kết quả thử việc như sau:

"1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động".

theo quy định sau khi hết 60 ngày thử việc công ty có nghĩa vụ phải ký hợp đồng lao động với bạn. theo quy định về chế độ thử việc, khi hết thời gian thử việc mà Công ty không ký kết hợp đồng lao động cho người lao động, người lao động không được thông báo kết quả thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc thì người đó đương nhiên được làm việc chính thức.

Tuy nhiên pháp luật không có quy định cụ thể trường hợp đương nhiên được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại hợp đồng lao động có xác định thời hạn bao lâu, do đó cần thiết phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký hợp đồng lao động loại gì, dùng làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện hợp đồng lao động đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc.

Với trường hợp này, khi kết thúc thời gian thử việc Công ty không ký kết hợp đồng lao động cho người lao động, nhưng người lao động vẫn tiếp tục làm việc cho Công ty thì hợp đồng lao động đương nhiên được xác lập.

Về việc tạm nghỉ việc theo quy định tại Điều 98 Bộ luật Lao động 2012, trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

'' 1. Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương;

2. Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định;

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế, thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.''

Bên cạnh đó tại Điều 37 của Bộ luật Lao động 2012 cũng quy định về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

'' Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.''

Như vậy theo các quy định nêu trên thì bạn có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng vì không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động. Trước khi chấm dứt hợp đồng bạn phải báo trước cho người sử dụng lao động 3 ngày làm việc.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng .

Bộ phận Tư vấn Luật Lao động.