Em làm việc tại công ty cũ đến ngày công ty cho nghỉ việc là được 15 tháng. Hợp đồng lao động của em được ký vào ngày 2/5/2014 và có thời hạn đến ngày 31/05/2016. Trong HĐLĐ của em ghi rõ “Người lao động làm việc tại công ty sau 6 tháng sẽ được đóng BHXH tại công ty”. Nhưng đến tận ngày em nghỉ việc là ngày 18/07/2015 em vẫn chưa được đóng BHXH. Trước khi nghỉ việc em đã bàn giao công việc cho người sau như yêu cầu của công ty và đã hoàn thành đủ nhưng cho đến hôm nay là 21/09/2015 hơn 2 tháng nhưng công ty vẫn chưa thanh toán phần lương còn lại của em là: 15 ngày công (Mức lương hiện tại em được hưởng là 5 triệu đồng/1 tháng. Công ty cứ đưa hết lý do này nọ và hẹn hết lần này lần khác nhưng vẫn không giải quyết cho em, vì em còn công việc của em nhưng khi em thu sếp để lên giải quyết thì luôn cáo bận rồi đủ thứ lý do và kéo dài thời gian và ảnh hưởng đến công việc hiện tại của em rất nhiều. (Trước em có vài trường hợp cũng bị như em) Mong các anh chị tư vấn giúp em như sau:

1. Công ty không thanh toán nốt tiền lương còn lại của em thì công ty phải chịu trách nhiệm và xử phạt thế nào?

2. Công ty không đóng BHXH cho em như trong HĐLĐ thì công ty phải chịu trách nhiệm gì và xử phạt thế nào?

3. Công ty cho nghỉ việc không báo trước, không có quyết định nghỉ việc trong khi HĐLĐ vẫn còn thời hạn. Vậy thì công ty phải chịu trách nhiệm gì và xử phạt thế nào? Và nêu công ty không giải quyết cho em thì em khởi kiện như thế nào và mẫu khởi kiện ra sao?

Rất mong nhận được sự giúp đỡ từ Luật sư. Trân trọng cảm ơn.

>>  Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin được tư vấn cho bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 

Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động

Nghị định số 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động

2. Nội dung tư vấn:

2.1. Khi công ty bạn không đóng BHXH cho bạn như trong hợp đồng lao động

Căn cứ điểm a khoản 1 điều 2 Luật BHXH 2006 quy định:

"Điều 2. Đối tượng áp dụng
1. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc là công dân Việt Nam, bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên;"

Điều này có nghĩa là kể từ khi bạn ký kết hợp đồng không xác định thời hạn thì bạn thuộc đối tượng bắt buộc tham gia BHXH, và công ty phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm cho bạn từ ngày 2/5/2014 chứ không phải 6 tháng sau mới được đóng BHXH. Quy định của công ty bạn như vậy là trái với quy định của Luật BHXH.

Theo quy định tại Điều 134 Luật bảo hiểm xã hội 2006, các hành vi vi phạm pháp luật về đóng bảo hiểm xã hội bao gồm:

"1. Không đóng.
2. Đóng không đúng thời gian quy định.
3. Đóng không đúng mức quy định.
4. Đóng không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội".

Công ty bạn sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điều 26 Nghị định 95/2013/NĐ-CP:

"Điều 26. Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
2. Phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:
a) Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp;
b) Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định;
c) Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp không đủ số người thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
3. Phạt tiền với mức từ 18% đến 20% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp cho toàn bộ người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều này;
b) Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm đối với vi phạm quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này."

Khi công ty bạn không tham gia đóng BHXH cho bạn kể từ thời điểm ký kết hợp đồng lao động với thời hạn trên 3 tháng, thì ngoài mức phạt hành chính phải chịu cho hành vi vi phạm này, công ty bạn còn bị buộc truy thu số tiền BHXH bắt buộc, BH thất nghiệp chưa đóng cho bạn trong suốt thời gian đó, tính thêm tiền lãi trên số tiền BHXH chưa đóng. Khoản tiền truy thu này sẽ được nộp lại tại Quỹ BHXH bắt buộc cho bạn, không được tính là khoản bồi thường. Theo pháp luật, thì không bắt buộc người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động nếu hành vi không đóng BHXH cho người lao động không gây ra thiệt hại, mức bồi thường chỉ tính đến khi có thiệt hại từ hành vi vi phạm đó gây ra cho người lao động.

2.2. Về việc công ty cho bạn nghỉ việc mà không thông báo:

Do công ty bạn cho bạn nghỉ việc mà không thông báo trước nên hành vi của công ty bạn là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Theo quy định tại điều 41 Bộ luật lao động 2012 (BLLĐ 2012) quy định:

"Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này."

Điều 38 BLLĐ 2012 quy định:

"Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Vì hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng xác định thời hạn nên khi cho bạn nghỉ việc công ty phải báo trước cho bạn trong thời gian ít nhất 30 ngày. Công ty bạn phải thực hiện nghĩa vụ theo điều 42 BLLĐ 2012 như sau:

"Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước."

Trong trường hợp này, do bạn chưa được công ty đóng bảo hiểm xã hội nên nếu bạn không muốn quay lại làm việc hoặc công ty cũng không muốn nhận lại bạn thì công ty bạn phải thanh toán tiền lương trả  trong những ngày bạn không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và phải trả trợ cấp thôi việc cho bạn. Khoản tiền trợ cấp thôi việc được quy định tại điều 48 BLLĐ 2012 như sau:

"1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

3. Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc."

(Theo quy định tại điểm c khoản 3 điều 14 Nghị định 05/2015 NĐ-CP: "c) Thời gian làm việc để tính trợ cấpthôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc."

Như vậy, Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc của bạn là 15 tháng sẽ là 1 + 1/2 = 1,5 năm. Số tiền bạn được nhận: 1,5 x tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc x 1/2)

Nếu công ty chỉ vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho bạn một khoản tiền tương ứng với tiền lương của bạn trong những ngày không báo trước.

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 47 BLLĐ 2012, trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau:
“ 2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày”.
Theo đó, công ty có trách nhiệm thanh toán nốt tiền lương trong thời gian bạn đãlàm việc cho công ty trong thời hạn 7 ngày làm việc.

Trong trường hợp công ty bạn không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như trên, bạn có quyền khởi kiện công ty ra tòa án yêu cầu giải quyết tranh chấp về lao động.

Mẫu đơn khởi kiện bạn có thể tham khảo tại đâyMẫu đơn khởi kiện vụ án dân sự, hành chính, lao động

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê