Điều này Công ty điều biết rất rõ, nhưng công ty đã không hỗ trợ gì mà còn định điều chuyển công tác tôi đến Chi nhánh cách đây 10 cây mặc dù tôi đã nêu hoàn cảnh cá nhân và xin không đi. Vì điều kiện làm việc ở Chi nhánh không phù hợp với tôi:  - Đi làm xa hơn gấp 3 chổ làm việc cũ; Bác sĩ khuyên tôi nên di chuyển nhẹ nhàng, mặt khác, tôi đã gần đến 3 tháng cuối thai kì, như vậy rất nguy hiểm. - Môi trường gió bụi (Do có nhiều xe Conterner ra vào, công ty tôi là kinh doanh Gas) ảnh hưởng đến bệnh chàm và bệnh dị ứng của tôi hiện tại; - Công việc nhiều hơn, vì thay cho người cũ (nghỉ thai sản), chị đó làm kiêm cả công việc thủ quỹ, Kế toán bán hàng, xuất hóa đơn. Trong khi công việc hiện tại của tôi là Nhân viên Quy Trình, chỉ ngồi viết trên máy tính. Tôi muốn hỏi theo luật thì Công ty làm như vậy có đúng không? Tôi có quyền từ chối không, mặc dù tôi đã có email xin không đi, nhưng Công ty vẫn ra quyết định điều chuyển.

Thứ 02: Nếu tôi xin nghỉ làm vào ngày 15/10/2015 thì tôi có được hưởng chế độ thai sản hay không? Lịch sử đóng BHXH của tôi như sau: Thời gian đóng BHXH: Từ tháng 05/2010-06/2011: Tại công ty xây dựng Từ tháng 08/2012-09/2013: Tại lĩnh vực Khách sạn Từ tháng 04/2014-03/2015: Tại Công ty kinh doanh và PP Gas. Từ tháng 06/2015 – nay: Tại Công ty kinh doanh và PP Gas. Tôi thật sự rất lo lắng cho sức khỏe của mình, vì tôi mới có đứa con đầu lòng và cũng đã lớn tuổi nên sức khỏe không tốt. Rất mong Luật sư tư vấn giúp cho tôi, để tôi có thể an tâm hơn trong giai đoạn thai kì.

Xin chân thành cảm ơn! Rất mong Luật sư quan tâm và sớm hồi âm. 

Người gửi: T.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật lao động công ty Luật Minh Khuê

Xin tư vấn về vấn đề đang trong giai đoạn thai sản mà bị điều chuyển công tác

Luật sư lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13

Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11 của Quốc hội

Nội dung phân tích:

Vấn đề thứ nhất:

Điều 31 Bộ luật lao động 2012 quy định về Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động:

1. Khi gặp khó khăn đột xuất do thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh, áp dụng biện pháp ngăn ngừa, khắc phục tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, sự cố điện, nước hoặc do nhu cầu sản xuất, kinh doanh, người sử dụng lao động được quyền tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm, trừ trường hợp được sự đồng ý của người lao động.

2. Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động.

3. Người lao động làm công việc theo quy định tại khoản 1 Điều này được trả lương theo công việc mới; nếu tiền lương của công việc mới thấp hơn tiền lương công việc cũ thì được giữ nguyên mức tiền lương cũ trong thời hạn 30 ngày làm việc. Tiền lương theo công việc mới ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương công việc cũ nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

Như vậy, công ty khi có nhu cầu về sản xuất kinh doanh có quyền tạm thời chuyển bạn đến nơi làm việc khác so với hợp đồng nhưng không được quá 60 ngày làm việc cộng dồn trong một năm và phải được trả lương theo công việc mới nếu công việc mới có lương thấp hơn thì được phép giữ mức tiền lương cũ. Nhưng bạn có quyền từ chối chuyển địa điểm làm việc (nếu địa điểm làm việc mới khác trong hợp đồng lao động) theo quy định tại Điều 30 Bộ luật lao động về việc Thực hiện công việc theo hợp đồng.

Thứ hai: 

Điều 37 Bộ luật lao động 2012 có quy định về Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Và Điều 156 cũng luật này quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của lao động nữ mang thai:

Lao động nữ mang thai nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chứng nhận tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động. Thời hạn mà lao động nữ phải báo trước cho người sử dụng lao động tuỳ thuộc vào thời hạn do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.

Như vậy, khi bị điều chuyển đến nơi làm việc mới mà không phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của bạn thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng căn cứ theo điều 37 hoặc nếu có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh chứng nhận nếu tiếp tục làm việc sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì bạn cũng có quyền chấm dứt hợp đồng hoặc tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động nhưng phải tuân theo quy định về thời hạn thông báo trước khi nghỉ việc.

Căn cứ theo Điều 28 luật Bảo hiểm xã hội 2006 quy định về Điều kiện hưởng chế độ thai sản

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới bốn tháng tuổi;

d) Người lao động đặt vòng tránh thai, thực hiện các biện pháp triệt sản.

2. Người lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ sáu tháng trở lên trong thời gian mười hai tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi

Như vậy nếu bạn xin nghỉ việc thì bạn đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong vòng 12 tháng trước khi sinh con nên bạn đủ điều kiện để được hưởng chế độ thai sản.

 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Emailhoặc tổng đài tư vấn trực tuyến: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT LAO ĐỘNG.