Có người ví tài sản vô hình, trong đó có tài sản trí tuệ là “niêu cơm Thạch Sanh”, xới mãi vẫn đầy. Dù vậy, nghịch lý ở Việt Nam là: ít ai muốn nấu cơm bằng niêu cơm đó, vì nấu lên chưa kịp ăn đã bị hớt tay trên. Bởi lẽ pháp luật về sở hữu trí tuệ ở ta chưa bảo vệ tốt cái niêu cơm đó, tức là tài sản trí tuệ.

Bảo hộ tài sản trí tuệ như thế nào?

Pháp luật về tài sản điều chỉnh các quan hệ giữa con người với nhau trong mối lien hệ với tài sản. Thử hình dung các quyền về tài sản như một bó đũa, mỗi que đũa là một quyền: quyền sử dụng, chiếm hữu, chuyển giao, và quyền loại trừ. Cũng như thế, pháp luật về tài sản trí tuệ không nên chú ý nhiều đến việc xác định phải điều chỉnh cái gì có thể sở hữu, mà tập trung vào điều chỉnh các quyền mà chủ sở hữu có thể có được.

Tuy nhiên, khác với tài sản vật chất, tài sản trí tuệ đặt ra cho pháp luật những câu hỏi mới như: trong những hoàn cảnh nào thì ý tưởng có thể tạo nên tài sản? Ý tưởng cần phải được hiện diện trong một hình hài như thế nào để được gọi là tài sản? Những thủ tục nào cần phải được tuân thủ để ý tưởng được công nhận là tài sản? Pháp luật có đảm bảo được rằng ý tưởng được coi là tài sản tư nhân? Ai có thể đòi quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ? Để trả lời những câu hỏi này, pháp luật cần khoanh vùng được ranh giới của tài sản trí tuệ. Tài sản trí tuệ là những gì vô hình trong mỗi vật do trí óc con người tạo ra, chúng tách biệt khỏi những gì hữu hình mà vật hiện diện. Chẳng hạn, một cuốn sách gồm câu chuyện mà tác giả sang tạo nên, tên và biểu tượng của nhà xuất bản, hoặc cách đóng gáy mới…Nhưng khi mua một quyển sách về, người mua không mua được bản quyền của tác giả, quyền nhãn hiệu thương mại của nhà xuất bản, quyền sang chế cách đóng gáy mới của nhà sang chế. Mặc dù vô hình, người tạo ra tài sản trí tuệ cũng có những quyền sở hữu như đối với tài sản vật chất. Pháp luật về tài sản trí tuệ cũng phải bảo hộ những quyền đó.

Nhiều khi tài sản vật chất có thể được dễ dàng bảo vệ bằng những biện pháp cá nhân. Ngôi nhà có thể dễ dàng được công nhận là tài sản, và chủ sở hữu có thể dựng rào, lắp hệ thống báo động để bảo vệ nó như một tài sản. Ngược lại, chủ sở hữu hợp pháp của một sáng chế hay tác phẩm nghệ thuật có thể dễ dàng bị đánh mất quyền sở hữu của mình. Chủ sở hữu tài sản trí tuệ, khi đầu tư vào nó với ý định nhận lại chút lời, không thể dựng rào ngăn cản mọi người sử dụng nó. Họ buộc phải trông cậy rất nhiều vào sự bảo hộ của pháp luật nhà nước. Bởi như một nhà luật học nói, tài sản (trong đó có tài sản trí tuệ) là những thứ mà chủ sở hữu của nó có thể đính kèm một lời tuyên bố với toàn bộ thế giới còn lại rằng, đừng đụng đến chúng nếu tôi chưa cho phép; ký tên: một công dân; được bảo hộ bởi: nhà nước.

Cũng như đối với tài sản vật chất, pháp luật về tài sản trí tuệ cũng cần đảm bảo được rằng chủ sở hữu hợp pháp của tài sản trí tuệ có quyền loại trừ tất cả mọi người khác không được sử dụng, chiếm hữu, chuyển nhượng nó nếu chưa được anh ta cho phép. Chẳng hạn, theo luật bản quyền của một số nước, nếu vượt qua ngưỡng mà pháp luật cho phép, việc tung lên mạng và tải về các file nhạc dạng MP3 chẳng hạn sẽ vượt ra ngoài phạm vi của việc chia sẻ (sharing) file đơn thuần giữa cá nhân với nhau (person –to- person), không được coi là việc sử dụng cá nhân và sẽ bị coi là hành vi trộm cắp, phát tán bất hợp pháp những tác phẩm âm nhạc và ghi âm đã có bản quyền. Chính vì vậy, toà án Mỹ đã phán quyết dịch vụ tải nhạc của Napster đã vi phạm luật bản quyền của nước này. Nhưng Napster và người sử dụng dịch vụ của Napster lại có ý kiến khác. Trên website của Napster ở mục hỏi đáp có đoạn: “Napster vẫn tin rằng việc chia sẻ file giữa cá nhân với nhau mà không vì mục đích thương mại là hành vi hợp pháp, và chúng tôi vẫn tiếp tục tranh đấu vì quyền của các bạn được chia sẻ âm nhạc trên mạng Internet”. Điều này chứng tỏ vẫn còn sự khác biệt giữa quan niệm thông thường trong xã hội với pháp luật về tài sản trí tuệ xung quanh khái niệm “tài sản trí tuệ”.

Tại sao lại phải bảo hộ tài sản trí tuệ?

Để biện minh cho việc bảo hộ tài sản trí tuệ bằng pháp luật, từ xưa tới nay người ta đưa ra mấy lý do. Thứ nhất là lý do vị lợi- vì lợi ích của sự sang tạo là chính. Chẳng hạn, Hiến pháp Mỹ giao cho Quốc hội quyền “thúc đẩy sự phát triển của Khoa học và Nghệ thuật bằng cách bảo đảm quyền loại trừ của tác giả và người sang chế đối với các tác phẩm và phát minh của họ trong một thời hạn nhất định”. Khi quy định như vậy, các nhà lập quốc Mỹ thấy được, mặc dù thời hạn bảo hộ không phải là vĩnh viễn, nhưng đủ để nhằm đến mục đích khuyến khích sự sang tạo ra tài sản trí tuệ. Sự bảo hộ có thời hạn này cũng nhằm cân bằng sự sang tạo với những lợi ích khác như cạnh tranh và tự do ngôn luận.

Lý do thứ hai xuất phát từ quan niệm về sự công bằng. Theo đó, như một lẽ tự nhiên, tác giả có quyền được hưởng ít nhất là chút gì đó từ những gì mình tạo ra, nhất là trong lĩnh vực luật bản quyền. Như John Lock, triết gia người Anh biện luận, khi tác giả đã cất công trình ra công chúng những nỗ lực tinh thần của anh ta về ngôn từ, hình ảnh, kỹ thuật hay ý tưởng, thì sản phẩm cuối cùng cần được coi là tài sản trí tuệ của riêng anh ta. Muốn anh ta chia sẻ sản phẩm đó với công chúng, công chúng buộc phải trả một cái giá nào đó.

Luật sư tư vấn bảo hộ nhãn hiệu quyền tại Việt Nam 1900 6162

Trên thế giới, người ta vẫn hay cho rằng hệ thống thông luật (common law system) nghiêng về thuyết vị lợi nhiều hơn. Còn hệ thống dân luật (civil law system) chịu ảnh hưởng lớn của thuyết công bằng và lẽ tự nhiên. Nhưng dù theo thuyết nào, pháp luật về tài sản trí tuệ vẫn cần phải cân bằng giữa hai mục đích: cân bằng giữa việc bảo hộ tư hữu với sự tiếp cận tài sản trí tuệ từ phía cộng đồng. Bởi lẽ nếu không bảo hộ tài sản trí tuệ, không ai còn động cơ để sang tạo. Mặt khác, bảo hộ quá mức sẽ tạo ra chi phí tiếp cận quá cao, và chỉ một số ít thành viên trong xã hội có cơ hội tiếp cận tài sản đó. Điều này không những gây tranh luận về sự công bằng trong phân phối của cải xã hội, mà còn gây nghi ngờ về tính hiệu quả kinh tế của luật: nếu vì do pháp luật mà chỉ một số ít người tiêu dung có thể đụng đến tài sản, thì tài sản đó không sinh lợi, không mang đến sự thịnh vượng chung.

Niêu cơm thần ít ai muốn nấu

Ở Việt Nam, có vẻ như chúng ta không theo thuyết nào cả. Nói thế vì pháp luật về sở hữu trí tuệ ở ta không khuyến khích được sự sinh sôi của tài sản trí tuệ. Mỗi năm lèo tèo dăm ba cái phát minh sang chế được đăng ký là một ví dụ. Pháp luật ở ta cũng không thiết lập được lẽ công bằng cho những người tạo ra tài sản trí tuệ. Tác giả của một tiểu thuyết, bài hát, bản nhạc vẫn thường chán nản nhìn tài sản của mình bị “dùng chùa” vô tội vạ mà không được hưởng một đồng nào. Khi mà ai cũng có thể in và bán một cuốn sách vừa mới ra lò, chứng tỏ pháp luật đã bó tay bất lực không làm được sứ mệnh bảo hộ của mình.

Có người đề nghị, để bảo hộ tài sản trí tuệ có hiệu quả mà vẫn tạo điều kiện cho cộng đồng tiếp cận được chúng, nên thực hiện chính sách hai mặt. Đối với việc “nhân bản” sản phẩm của nước ngoài, nên dễ tính hơn, thả lỏng hơn. Đối với việc xâm phạm sở hữu trí tuệ của các tác giả trong nước, cần siết chặt hơn để khuyến khích họ tiếp tục sản sinh ra dạng tài sản này. Nghe có vẻ hợp lý, nhưng nếu vậy thì đáp ứng như thế nào yêu cầu về đối xử không phân biệt trong thương mại quốc tế? Thật là một bài toán khó.

Nói cho đúng, chính sự bàng quan và nhận thức của xã hội góp phần không nhỏ gây nên tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nếu tác giả lên tiếng đòi quyền lợi hợp pháp của mình, ít nhất người ta cũng nhìn tác giả đó “hơi kỳ kỳ”, chứ chưa nói đến chuyện anh ta có thể bị coi là kẻ không biết điều, đòi hỏi quá đáng. Cái quan niệm “nghệ thuật thuộc về nhân dân” có lẽ vẫn còn trong không ít người. Cũng không ít người trong thâm tâm vẫn coi việc in ấn, buôn bán băng đĩa lậu, sách lậu là có ích, đưa đến cho người yêu âm nhạc, yêu sách những sản phẩm vừa túi tiền. Hơn nữa, người ta coi chuyện sở hữu trí tuệ là bất kỳ cái gì đó, nhưng không phải là chuyện của pháp luật. Một ví dụ nhỏ chứng minh điều này: khi có tranh chấp nào đó về bản quyền, sang chế hay nhãn hiệu thương mại, các báo vẫn thường xếp vào mục văn hoá, kinh tế, chính trị- xã hội, khoa học…, nhưng đố tìm được báo nào đưa chúng vào mục pháp luật. Người ta vẫn đến các cơ quan như các bộ, ngành, sở, Hội nhạc sỹ, Hội nhà văn…để hỏi về phán quyết, mà ít khi đến toà án.

Tuy nhiên, nhận thức của xã hội cũng không biện hộ được sự yếu ớt của pháp luật trong việc bảo hộ dạng tài sản vô hình này. Sự yếu ớt không chỉ thể hiện qua những quy định thiếu cụ thể, mà còn qua sự thực thi manh mún, uể oải, không có uy quyền của các cơ quan công quyền. Nhất là toà án vốn đã lúng túng trong xét xử những vụ kiện dân sự thông thường, nay phải đối mặt với một mảng hoàn toàn mới mẻ, rất chuyên sâu, rất khó, lại càng lúng túng hơn. Bởi vậy, chuyện bảo hộ tài sản trí tuệ hoá ra lại phụ thuộc vào cả một hệ thống và môi trường lớn hơn. Nhưng thôi, xin dừng tại đây. Chúng ta đều mong rằng, với tiềm lực trí tuệ của hơn 80 triệu con người, nếu được pháp luật bảo hộ chu đáo, “niêu cơm Thạch Sanh” với tài sản trí tuệ trong đó sẽ không bao giờ vơi, càng xới càng đầy.

Dịch vụ đăng ký nhãn hiệu độc quyền.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật Sở hữu trí tuệ, gọi: 1900 6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email:  lienhe@luatminhkhue.vn

Rất mong nhận được sự hợp tác của Quý khách hàng!

Trân trọng./.

PHÒNG LUẬT SƯ SỞ HỮU TRÍ TUỆ