1. Lời giới thiệu

Chủ đề của bài viết trong hội thảo này là nghiên cứu các xu hướng pháp luật quyền tác giả và trả lời câu hỏi liệu các xu hướng ấy phát triển theo hướng có lợi cho chủ sở hữu quyền tác giả hay cho người sử dụng và người thụ hưởng các tác phẩm được bảo hộ. Phạm vi bài này bàn về kinh nghiệm của Hoa Kỳ, đấy nước mà trong hơn 10 năm qua hàng chục dự thảo luật về quyền tác giả đã được đệ trình và ban hành, và vấn đề quyền tác giả ngày càng quan trọng hơn đối với càng nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Mỹ hơn trước kia. Đó là cơ sở vững chắc cho các sự kiện để phân biệt các xu hướng ở các phần sau của bài viết.

Những người hoài nghi về tác dụng của bảo hộ quyền tác giả ở Hoa Kỳ đã không phát biểu về việc mở rộng các quyền tác giả và bảo hộ trong thời gian qua đã gây thiệt hại cho người sử dụng và người thụ hưởng các tác phẩm được bảo hộ. Thực tế còn phức tạp hơn khi bàn về việc ban hành pháp luật hiện hành được và hoàn cảnh liên quan. Bài viết cũng trình bày về nội dung chính của pháp luật quyền liên quan được ban hành hoặc đệ trình trong vòng 10 năm qua, ở sau phần đánh giá các xu hướng.

  • Thứ nhất, lợi ích của người sử dụng và người thụ hưởng các tác phẩm được bảo hộ luôn được bàn bạc và quy định trong các văn bản pháp luật về quyền tác giả, kể cả ở các văn bản bổ sung về bảo hộ và quyền tác giả. Giống như vấn đề chính trị, việc xác định thời điểm sửa đổi không xuất phát từ nhu cầu của chủ thể quyền, mà do pháp luật cần đảm bảo lợi ích của người sử dụng quan trọng như các tổ chức phát sóng và các nhà cung cấp dịch vụ Internet.
  • Thứ hai, có nhiều nhóm người thụ hưởng tham gia đóng góp ý kiến về luật quyền tác giả, đa số là mới tham gia và đại diện cho lợi ích của người sử dụng và người thụ hưởng. Điều này phản ánh một thực tế rằng trong kỷ nguyên công nghệ, quyền tác giả càng quan trọng hơn, và do đó ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều nhóm thụ hưởng hơn trước kia.
  • Thứ ba, không thể xem xét toàn diện các xu hướng pháp luật mà không quan tâm đến các điều kiện kinh tế, kỹ thuật mà quy định pháp luật đó được thi hành. Trong khi gần đây một số văn bản pháp luật được xây dựng với mục đích tăng cường bảo hộ đối với chủ sở hữu quyền, các văn bản đó được ban hành nhằm ứng phó với tình trạng tăng đột biến tiện ích và việc sử dụng mạng truyền thông và công nghệ số, để có thể sao chép, phân phối và trình diễn các tác phẩm được bảo hộ dạng số với chất lượng cao. Người sử dụng và người thụ hưởng các tác phẩm được bảo hộ hưởng lợi thực sự từ công nghệ này trong việc khai thác, sử dụng các tác phẩm được bảo hộ, nhưng lợi ích này không được phản ánh đầy đủ trong các văn bản ban hành. Nói cách khác, pháp luật chỉ là một phần để đánh giá liệu quyền tác giả có tạo ra đối trọng hợp lý lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu quyền và người sử dụng.

Bài viết giới thiệu một số văn bản pháp luật quan trọng được ban hành trong vòng 10 năm qua tại Hoa Kỳ, và khai thác ở khía cạnh này. Bài viết cũng đề cập đến một số dự thảo gần đây về chủ đề này và để minh chứng cho các xu hướng có thể hoặc không diễn ra trong lĩnh vực này. Từ kinh nghiệm đó, rõ ràng trong luật Quyền tác giả Hoa Kỳ, nhóm người sử dụng và người thụ hưởng có không nhiều ảnh hưởng hơn, thì bằng so với tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả, phản ánh thế cân bằng mà Nghị viện Mỹ luôn cố đạt được trong luật quyền tác giả.

>> Luật sư tư vấn Luật sở hữu Trí tuệ qua điện thoại (24/7) gọi số:  1900 6162

Luật sư Lê Minh Trường tham gia chương trình 60 phút mở trên VTV6

2. Một số văn bản luật quyền tác giả quan trọng gần đây tại Hoa Kỳ.

Đạo luật quyền tác giả trong kỷ nguyên công nghệ số.

  Đạo luật quyền tác giả trong kỷ nguyên công nghệ số (gọi tắt là DMCA) ban hành năm 1998, là lần sửa đổi quan trọng nhất luật quyền tác giả Hoa Kỳ kể từ lần sửa đổi toàn diện (nhiều mục) luật quyền tác giả năm 1976. Đạo luật này gồm một số sửa đổi khác nhau liên quan đến tập trung trung ương, quy định về thực hiện hiệp ước WIPO về quyền tác giả, Hiệp ước WIPO về biểu diễn và bản ghi âm. Những sửa đổi này phản ánh sự nhượng bộ quan trọng giữa tác giả, chủ sở hữu quyền, người sử dụng và người thụ hưởng.

Phần 1 của DMCA quy định về thực hiện các Hiệp ước WIPO 1996, và phần quan trọng nhất của phần này quy định trách nhiệm pháp lý đối với hành vi phá hủy các biện pháp bảo hộ công nghệ. Vào thời điểm ban hành, các quy định này gây tranh cãi và được một số uỷ ban của Nghị viện xem xét. Trong khi luật quy định trách nhiệm pháp lý mới theo hướng ủng hộ các chủ sở hữu quyền sử dụng kỹ thuật nhằm bảo hộ hoặc cấp phép các tác phẩm của họ trong môi trường số, luật cũng đưa ra một số ngoại trừ trách nhiệm pháp lý mới và một số quy định khác nhằm đảm bảo lợi ích của nhóm người sử dụng và người thụ hưởng trong khi việc này gây tranh cãi. Ví dụ ngoại trừ trách nhiệm đối với các thư viện phi kinh doanh, cơ quan lưu trữ, cơ quan giáo dục, nghiên cứu mật mã. Các điều khoản về nghĩa vụ không áp dụng đối với bất kỳ công nghệ nào được sử dụng, một quy định quan trọng đối với các công ty điện tử. Quan trọng nhất, DMCA quy định quy trình kiểm tra định kỳ, do Thư viện Quốc hội và Cục Bản quyền tác giả thực hiện, về sử dụng các biện pháp bảo hộ công nghệ kiểm soát hành vi tiếp cận tác phẩm nhằm ngăn chặn việc sử dụng bất hợp pháp tác phẩm được bảo hộ và quy định các ngoại trừ khi các biện pháp này được bảo đảm. Trong khi một số người đặt câu hỏi có cần nhiều ngoại lệ để cân bằng với các điều khoản nghĩa vụ trong DMCA, không ai hỏi xem DMCA đảm bảo lợi ích người sử dụng và người thụ hưởng ở mức độ nào, và không thể nói rằng DMCA có xu hướng thiên vị quyền lợi tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả.


Bối cảnh chính trị của DMCA quan trọng để xem xét DMCA theo xu hướng nào, Phần 2 gồm các giới hạn nghĩa vụ áp dụng cho nhà cung cấp dịch vụ Internet, như các công ty viễn thông lớn cung cấp dịch vụ trực tuyến cho khách hàng. Các hiệp ước của WIPO không yêu cầu Hoa Kỳ phải ban hành các quy định đó, nhưng ngành viễn thông cho rằng họ sẽ ủng hộ việc thực hiện pháp luật chỉ khi DMCA quy định ngoại lệ đối với các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến. Do đó, các ngành công nghiệp đại diện cho người sử dụng và người thụ hưởng tác phẩm có thể và phải sử dụng ảnh hưởng quan trọng trong việc thông qua quy định quyền tác giả.
  Cũng cần lưu ý rằng điều kiện về công nghệ để ban hành DMCA liên quan đến phân tích các xu hướng được phản ánh trong luật. Lúc đó, cách mạng công nghệ xuất hiện và diễn ra đến nay, mang lại cho người sử dụng và người thụ hưởng khả năng vô tận trong việc sao chép và truyền bản sao tác phẩm dạng số với chất lượng cao. Mặc dù DMCA quy định nghĩa vụ mới, thực tế người sử dụng và người thụ hưởng ngày nay có thể sao chép và truyền bản sao tác phẩm hợp pháp và bất hợp pháp dễ dàng hơn trước kia rất nhiều. Sự kết hợp giữa công nghệ ghi đĩa CD, nén file và công nghệ phân tán đồng đẳng đã tạo ra mạng lưới khổng lồ hành vi xâm phạm, đe dọa lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với bản ghi âm và tác phẩm điện ảnh. Việc ban hành DMCA giúp luật quyền tác giả giữ nguyên hiệu lực trong môi trường số, nhưng đó chỉ là một phần trong toàn hệ thống sao chép và phân phối bản sao tới công chúng ra sao. Sau khi xét xét tất cả các điều kiện đó, thì có thể kết luận rằng có xu hướng có lợi cho người sử dụng và người thụ hưởng, những người hưởng lợi ích của công nghệ vượt trước luật quyền tác giả.

Luật quyền biểu diễn bản ghi âm dạng số
  Được thông qua năm 1995, luật quyền biểu diễn bản ghi âm dạng số (gọi tắt DPRA) quy định quyền độc quyền mới: quyền biểu diễn bản ghi âm bằng phương tiện truyền tín hiệu dạng số. Giống như DMCA, thoạt nhìn người ta có thể kết luận ngay rằng quy định quyền mới theo hướng có lợi cho chủ sở hữu quyền tác giả. Nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều.

Trước tiên, quyền mới do DPRA quy định, về cơ bản, là bị giới hạn, và chỉ được cho là động tác nhỏ nhằm sửa sai cho một quy định bất thường trong luật pháp Hoa Kỳ đã làm lợi cho một nhóm người sử dụng trong nhiều thập kỷ - là các tổ chức phát sóng. Trước năm 1995, Hoa Kỳ, không như các nước khác, không quy định quyền biểu diễn trước công chúng đối với những buổi biễu diễn để ghi âm, ghi hình như các công ty ghi âm, các nghệ sỹ ghi âm. Do đó, các tổ chức phát sóng được quyền phát sóng các bản ghi âm mà không phải xin phép hoặc trả thù lao cho người sáng tạo ra các bài hát được ghi âm đó.


DPRA cũng quy định các giới hạn của quyền đó: không áp dụng quy định này cho việc truyền tín hiệu analog; chỉ áp dụng đối với buổi biểu diễn được truyền tín hiệu, không phải biểu diễn tại nơi công cộng; và không áp dụng đối với buổi biểu diễn như là một phần của tác phẩm nghe nhìn. Luật cũng quy định một số ngoại lệ không áp dụng quyền mới đối với phát sóng vô tuyến dạng số, một số hình thức tái phát sóng hữu tuyến dạng số, một số hình thức phát sóng dịch vụ nhạc nền… Mỗi giới hạn này phản ánh lợi ích của các ngành công nghiệp sử dụng chuyên biệt khi xem xét thông qua DPRA như phát sóng, truyền hữu tuyến, và dịch vụ nhạc nền.

Thêm vào đó, DPRA quy định giấy phép cưỡng bức (giới hạn cần thiết của quyền mới đối với quyền nhận thù lao) đối với các dịch vụ đặt mua nhạc số mà có thể sử dụng các bản ghi âm có bản quyền không phải xin phép chỉ thanh toán phí cấp phép theo quy định. Giấy phép cưỡng bức này sử dụng cho các dịch vụ trên Internet như webcaster vào năm 1998, phản ánh lợi ích của người sử dụng mới các bản ghi âm có bản quyền.

Như vấn đề chính trị, DPRA không được thông qua mà không có sự nhất trí của các tổ chức phát sóng Hoa Kỳ, nhóm người sử dụng có ảnh hưởng lớn trong các phiên họp về các vấn đề quyền tác giả. Do đó, DPRA cũng đưa ra bằng chứng cho thấy pháp luật quyền tác giả là sự thỏa hiệp cho thấy xu hướng không chỉ có lợi cho chủ sở hữu quyền tác giả hay người sử dụng.

Luật giảng dạy

Khi thông qua DMCA, Nghị viện Hoa Kỳ cũng muốn giải quyết các vấn đề liên quan đến việc sử dụng các tác phẩm được bảo hộ trong “giáo dục từ xa”, như sử dụng công nghệ truyền thông số để đưa ra các chỉ dẫn tại các lớp học từ xa cho sinh viên. Nghị viện đã yêu cầu Cục Bản quyền tác giả Hoa Kỳ nghiên cứu và đề xuất xây dựng luật vào năm 1996 và năm 2002 đạo luật hài hòa giữa công nghệ và quyền tác giả được thông qua, nó được coi là ví dụ điển hình luật đảm bảo lợi ích của người sử dụng và nhóm lợi ích người thụ hưởng.

Luật giảng dạy mở rộng các ngoại lệ cho buổi biển diễn công cộng và thừa nhận quyền của các cơ quan giáo dục phi lợi nhuận sử dụng công nghệ giáo dục từ xa. Quy định mới, như các quy định khác tại luật quyền tác giả, tạo thuận lợi cho việc sử dụng các phương tiện có bảo hộ quyền tác giả cho mục đích giáo dục từ xa không phương hại đến quyền lợi các tác giả sáng tạo tác phẩm. Một lần nữa chúng tôi thấy rằng thực tế việc sửa đổi quyền tác giả có thể theo hướng có lợi cho người sử dụng phức tạp hơn, và nhìn chung cho thấy cân bằng lợi ích.

Đạo luật kéo dài thời hạn quyền tác giả và công bằng trong cấp phép âm nhạc

Sửa đổi luật quyền tác giả gây tranh cãi nhất gần đây tại Hoa Kỳ, đạo luật kéo dài thời hạn bảo hộ quyền tác giả năm 1998, vụ việc được Tòa án Tối cao Hoa Kỳ xét xử, gồm các điều khoản nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích người sử dụng và người thụ hưởng. Đạo luật đã kéo dài thời hạn bảo hộ thêm 20 năm tại Hoa Kỳ (ví dụ các tác phẩm được bảo hộ trong suốt cuộc đời tác giả cộng thêm 50 năm sau khi tác giả chết thành 70 năm sau khi tác giả chết), áp dụng đối với cả các tác phẩm hiện hành. Các thư viện và cơ quan lưu trữ có thể đưa bản sao tác phẩm đến công chúng trong 20 năm cuối thời hạn nếu đáp ứng được các điều kiện liên quan đến liệu chủ sở hữu quyền tác giả có cung cấp đủ bản sao cho công chúng hay không.

Xét ở góc độ chính trị, đạo luật kéo dài thời hạn được thông qua trong cùng luật với sửa đổi khác về đảm bảo quyền lợi người sử dụng. Đạo luật công bằng trong cấp phép âm nhạc mở rộng ngoại lệ đối với các quán bar và nhà hàng có biểu diễn tác phẩm âm nhạc thông qua hệ thống phát thanh, truyền hình công cộng. Mở rộng các ngoại lệ quyền tác giả đến mức vào năm 2000, kênh giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra quy định rằng các ngoại lệ phải trong phạm vi Hiệp định TRIPS. Mặc dù quy định như vậy nhưng vị thế chính trị của Mỹ làm cho họ không đưa các ngoại lệ đó vào giới hạn của Hiệp định TRIPS, phản ánh sâu sắc hơn ảnh hưởng mà lợi ích người sử dụng có trong xây dựng luật quyền tác giả.

Dự luật đệ trình nghị viện khóa 108

Từ tháng 1/2003 đến cuối tháng 9/2004, Nghị viện Hoa Kỳ không ban hành thêm đạo luật nào về quyền tác giả. Một số dự thảo về quyền tác giả được đưa ra thảo luận nhưng vẫn chưa ban hành thành luật. Thật khó dựa vào các dự thảo để phân biệt các xu hướng pháp luật, lý do chính là đưa dự thảo ra thảo luận tại Nghị viện rất dễ nhưng lại có rất ít thông tin về quan điểm của các nhà lập pháp về vấn đề đó như thế nào. Tuy nhiên, các dự thảo gần đây chỉ ra xu hướng có lợi cho cả tác giả và người sử dụng tác phẩm được bảo hộ và họ đều có ảnh hưởng đến quá trình xây dựng luật quyền tác giả.

Một số dự thảo mới xây dựng theo hướng tăng cường thực thi quyền tác giả trong môi trường số, đặc biệt trong bối cảnh các dịch vụ phát tán đồng đẳng tạo điều kiện xâm phạm ồ ạt. Các dự thảo khác phản ánh nhu cầu của người sử dụng và người thụ hưởng tác phẩm, đặc biệt đối với các biện pháp bảo hộ công nghệ. Một số dự thảo khác cố gắng làm giảm những bất lợi của việc kéo dài thời hạn quyền tác giả cho người sử dụng tác phẩm được bảo hộ.

  Có thể rút ra kết luận từ bối cảnh chính trị về quyền tác giả gần đây ở Hoa Kỳ.  Ngày càng có nhiều nhóm và ngành công nghiệp được hưởng lợi về quyền tác giả hơn trước kia. Ví dụ dự thảo gần đây đưa ra giải pháp cho tình trạnh xâm phạm ngang hàng giải thích sự thay đổi này. Khoảng 40 nhóm và công ty phản đối quy định pháp luật, chỉ khoảng 3 hoặc 4 trong số đó tham gia thảo luận ra đời luật quyền tác giả năm 1976. Dường như do công nghệ là chính, giờ đây quyền tác giả ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều người hơn trước kia, do đó tăng cường lợi ích của các đối tượng mà trước đây không tham gia các thảo luận về quyền tác giả. Điều này dường như khiến cho việc thông qua luật quyền tác giả khó khăn hơn trước kia, vì trước kia luật quyền tác giả được thông qua với sự nhất trí của tất cả các bên có lợi ích liên quan. Thời gian sẽ trả lời liệu điều này có đúng hay không.

3. Kết luận.

Không thể nói rằng xu hướng pháp luật quyền tác giả tại Hoa Kỳ có lợi cho tác giả hay người sử dụng. Mỗi văn bản quyền tác giả, dù có lợi cho tác giả hay người sử dụng, đều gồm các điều khoản cho thấy cố gắng cân bằng lợi ích của cả người sử dụng và chủ sở hữu các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả. Các nhóm người sử dụng và người thụ hưởng cũng có không hơn thì bằng ảnh hưởng về mặt chính trị đối với các vấn đề quyền tác giả so với tác giả và người nắm giữ quyền. Chỉ có một xu hướng rõ là các bên hưởng lợi tham gia các thảo luận quyền tác giả ngày nay nhiều hơn trước kia, điều này làm cho quá trình ban hành luật phức tạp hơn và năng động hơn.

Mr. Jule Sigall - Cơ quan quyền tác giả Hoa Kỳ

Nguồn:  www.hca.org.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm  hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)