1. Phân tích hành vi xâm phạm quyền nhãn hiệu đối với công ty ?

Tình huống giả định: Công ty cà phê Trung Nguyên phát hiện ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận có một số cửa hàng Cà Phê Cao Nguyên của Công ty Phương Đông có những hành vi: sử dụng bảng hiệu “Cà phê Cao Nguyên” có kiểu chữ và cách trình bày tương tự với nhãn hiệu của Cà Phê Trung Nguyên;
Sơn bảng hiệu có khẩu hiệu “Cafe hàng đầu Buôn Ma Thuột”, “ Đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” trên nền nâu giống với bảng hiệu của Cà phê Trung Nguyên. Công ty Phương Đông cho rằng mình không xâm phạm quyền của công ty Cà phê Trung Nguyên vì họ sử dụng nhãn hiệu “Cao Nguyên” không trùng hay tương tự với nhãn hiệu “Trung Nguyên”, còn các khẩu hiệu kinh doanh kia của Công ty Trung Nguyên chưa đăng ký bảo hộ.
- Căn cứ vào quy định của pháp luật, anh chị hãy xác định hành vi của Công ty Phương Đông có xâm phạm quyền của Công ty Cà phê Trung Nguyên không? Nếu có thì là những hành vi nào?

Luật sư trả lời:

1. Các hành vi xâm phạm của công ty Phương Đông:

Thứ nhất là dùng bảng hiệu “Cà phê Cao Nguyên” có kiểu chữ và cách trình bày tương tự với nhãn hiệu của Cà phê Trung Nguyên;

Thứ hai là bảng hiệu có khẩu hiệu “Cafe hàng đầu Buôn Ma Thuột”,“ Đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” trên nền nâu giống với bảng hiệu của Cà phê Trung Nguyên.

2. Quy định của pháp luật

+ Khoản 3 Điều 11 Nghị định 105/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ quy định như sau:

3. Để xác định một dấu hiệu bị nghi ngờ có phải là yếu tố xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu hay không, cần phải so sánh dấu hiệu đó với nhãn hiệu, đồng thời phải so sánh sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu đó với sản phẩm, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ. Chỉ có thể khẳng định có yếu tố xâm phạm khi đáp ứng cả hai điều kiện sau đây:

a) Dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ; trong đó một dấu hiệu bị coi là trùng với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có cùng cấu tạo, cách trình bày (kể cả màu sắc); một dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ nếu có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo, cách phát âm, phiên âm đối với dấu hiệu, chữ, ý nghĩa, cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;

b) Hàng hoá, dịch vụ mang dấu hiệu bị nghi ngờ trùng hoặc tương tự về bản chất hoặc có liên hệ về chức năng, công dụng và có cùng kênh tiêu thụ với hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi bảo hộ.”

+ Hướng dẫn tại Thông tư 01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/ NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp.

+ Khoản 1,2 điều 2, Thông tư 10/2013/TT-BVHTTDL quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quảng cáo và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo.

2.1. Hành vi thứ nhất

Việc Công ty Phương Đông sử dụng bảng hiệu “Cà phê Cao Nguyên” có kiểu chữ và cách trình bày tương tự với nhãn hiệu của Cà phê Trung Nguyên là xâm phạm quyền nhãn hiệu.

Dựa theo các quy tắc Luật định thì ta có thể chứng minh công ty Phương Đông có xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu của công ty Trung Nguyên qua các yếu tố sau: cấu tạo, cách trình bày nhãn hiệu của công ty Phương Đông và công ty cà phê Trung Nguyên xem có trùng nhau hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn hay không?

Cụ thể như sau:

Đầu tiên là cấu tạo nhãn hiệu của công ty cà phê Trung

+ Phần chữ: Cà phê Trung Nguyên

+ Kiểu chữ và cách trình bày

Tiếp theo là phần nhãn hiệu của công ty Phương Đông cấu tạo bởi:

+ Phần chữ: Cà phê Cao Nguyên.

Ta nhận thấy, phần chữ trong nhãn hiệu của công ty Phương Đông cũng gồm 2 từ Tiếng Việt nhưng từ thứ nhất trong tên nhãn hiệu lại khác về cấu tạo và cách phát âm so với từ thứ nhất trong nhãn hiệu của công ty cà phê Trung Nguyên. (Từ “Cao” và “Trung”).

+ Kiểu chữ và cách trình bày

Theo như tình huống đưa ra thì màu sắc, kiểu chữ và cách trình bày hai từ “Cao Nguyên” trong nhãn hiệu của công ty Phương Đông lại hoàn toàn giống với màu sắc, kiểu chữ và cách trình bày hai từ “Trung Nguyên” của công ty cà phê Trung Nguyên. Đây chính là dấu hiệu bị coi là tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thuộc phạm vi bảo hộ bởi nó có một số đặc điểm hoàn toàn trùng nhau hoặc tương tự đến mức không dễ dàng phân biệt với nhau về cấu tạo chữ cách trình bày, màu sắc và gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.

Trong trường hợp này ta có thể nhận định rằng nhãn hiệu cà phê “Cao Nguyên” của công ty Phương Đông đã vi phạm quyền đối với nhãn hiệu cà phê “Trung Nguyên” của công ty cà phê Trung Nguyên.

2.2. Hành vi thứ hai

Hành vi sơn bảng hiệu có khẩu hiệu “Cafe hàng đầu Buôn Ma Thuột”,“Đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” trên nền nâu giống với bảng hiệu của Cà phê Trung Nguyên có thể là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu

Hiện tại, việc bảo hộ khẩu hiệu kinh doanh hay tiếng anh thường gọi là slogan chưa được Luật sở hữu trí tuệ hay các văn bản hướng dẫn thi hành có quy định về vấn đề này. Các Slogan hiện nay thường được bảo hộ như một nhãn hiệu. Thực tế cho thấy, số lượng câu Slogan được bảo hộ rất ít và thường bị từ chối do mang tính mô tả tính chất, công dụng, phương pháp sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ( điểm c, khoản 2 Điều 74 Luật Sở hữu trí tuệ )

Vì vậy, khi công ty Phương Đông sử dụng câu khẩu hiệu:“Đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới”có thể xảy ra các trường hợp:

Trường hợp 1: Nếu như trong đơn đăng ký nhãn hiêu của mình, công ty cà phê Trung Nguyên có đăng ký luôn cho cả phần chữ:“Đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” trong nhãn hiệu và được chấp nhận. Trong trường hợp này, hành vi của công ty Phương Đông sẽ là hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu theo quy định tại khoản 1 điều 129 của Luật Sở hữu trí tuệ.

Trường hợp 2: Nếu như trong đơn đăng ký nhãn hiêu của mình, công ty cà phê Trung Nguyên không đăng ký kèm theo phần chữ:“Đem lại nguồn cảm hứng sáng tạo mới” trong nhãn hiệu của mình. Trong trường hợp này, câu Slogan sẽ không được bảo hộ và hành vi của công ty Phương Đông không phải là hành vi xâm phạm quyền đối với công ty cà phê Trung Nguyên.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 0986.386.648 để được giải đáp. Trân trọng./.

2. Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa là gì?

Trả lời:

Đơn đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa là Đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa nộp theo thỏa ước Madrit về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa.

Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 0986.386.648 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

3. Bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa Việt Nam tại thị trường nước ngoài

Trong thời kỳ hội nhập, nhãn hiệu hàng hoá (NHHH) được coi là tài sản quí giá của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua cũng đã nhận thức được rằng, NHHH là công cụ cạnh tranh cực kỳ quan trọng.

Gần đây, hàng loạt các vụ tranh chấp về NHHH giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp Việt Nam và giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài là những hồi chuông cảnh báo nguy hiểm cận kề nếu doanh nghiệp Việt Nam không chú trọng đến việc xây dựng và bảo hộ NHHH của mình trên thị trường trong và ngoài nước.Trong phạm vi bài viết này, tác giả muốn đề cập đến 3 vấn đề: thứ nhất, hiểu thế nào cho đúng về NHHH; Thứ hai, hoạt động bảo hộ NHHH của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước; Thứ ba, thủ tục đăng ký bảo hộ NHHH theo thoả ước Madrid.

1. Nhãn hiệu hàng hoá là gì?

Điều 785 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “NHHH là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. NHHH có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc sự kết hợp các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc”.

Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ Thế giới WIPO thì “NHHH là bất kỳ dấu hiệu nào giúp chỉ rõ hàng hoá của một doanh nghiệp và phân biệt hàng hoá của doanh nghiệp với hàng hoá của doanh nghiệp khác”.

Như vậy, NHHH nói chung là dấu hiệu nhằm phân biệt sản phẩm của doanh nghiệp này với sản phẩm của doanh nghiệp khác.

Các đối tượng bảo hộ sở hữu trí tuệ còn đề cập đến các khái niệm khác bao gồm:

>> Luật sư tư vấn bảo hộ nhãn hiệu quyền tại Việt Nam 0986.386.648

Luật sư Lê Minh Trường tham gia chương trình 60 phút mở trên VTV6 - Tư vấn luật về Sở hữu trí tuệ

Tên gọi xuất xứ của hàng hoá, Điều 786 Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “Tên gọi xuất xứ của hàng hoá là tên địa lý của nước, địa phương dùng để chỉ xuất xứ của mặt hàng từ nước, địa phương đó với điều kiện những mặt hàng này có các tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó ”.

Điều 14 Nghị định 54/2000/NĐ-CP Việt Nam quy định:

Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ là thông tin về nguồn gốc địa lý của hàng hoá đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: a) thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh, dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia; b) Thể hiện trên hàng hoá, bao bì hàng hoá hay giấy tờ giao dịch liên quan tới việc mua bán hàng hoá nhằm chỉ dẫn rằng hàng hoá nói trên có nguồn gốc tại quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác của loại hàng hoá này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên.

Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau: a) Là tập hợp chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được; b) có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cũng lĩnh vực kinh doanh.

Tuy nhiên, trong các chương trình phát động của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, và các Bộ ngành của Việt Nam thời gian qua đều đề cập đến một khái niệm khác: Thương Hiệu. Trong tất cả các văn bản pháp qui của Việt Nam và thế giới đều không đề cập đến cụm từ Thương hiệu mà chỉ đề cập đến nhãn hiệu thương mại, tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại… Vậy thương hiệu là gì?

Câu hỏi này đã làm cho không ít người băn khoăn, cho rằng đây là một khái niệm mới mà không được định nghĩa ở đâu cả.

Theo lời giải thích của Bộ Thương mại thì Thương hiệu không phải là một khái niệm mới là một thuật ngữ phổ biến trong marketing được người ta sử dụng khi đề cập đến: a) nhãn hiệu hàng hoá, b) tên thương mại của tổ chức cá nhân hay c) chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ của hàng hoá. Nếu đc các sách marketing thì chỉ đề cập đến cụm từ Trademark: nhãn hiệu thương mại, Brand: nhãn hiệu mà không có cụm từ tương ứng mang nghĩa thương hiệu như Việt Nam.

Căn cứ vào phần trả lời phỏng vấn của Phó Cục trưởng Cục Sở hữu công nghiệp – Trần Việt Hùng thì thương hiệu là cụm từ dùng để chỉ: a) nhãn hiệu hàng hoá; b) tên gọi xuất xứ của hàng hoá; c) chỉ dẫn địa lý.

Trong bài phát biểu của một bà giám đốc trong chương trình phóng sự của giải thưởng Sao vàng đất Việt lại cho rằng: thương hiệu là sự kết hợp của vùng nguyên liệu, công nghệ, uy tín sản phẩm …

Ở đây tác giả còn chưa kể đến Thương hiệu được dùng mang ý nghĩa là nhãn hiệu chứng nhận như chương trình xây dựng và phát triển Thương hiệu Việt Nam- Trade Value Inside – do Bộ Thương mại chủ trì.

Trong bài Thương hiệu và Nhãn hiệu của tác giả Doãn Thế Đính đăng trên tạp chí Thương mại số 31/2003 lại đưa ra một định nghĩa mới: “Thương hiệu là quá trình xây dựng hình ảnh biểu trưng của sản phẩm và của tổ chức doanh nghiệp… Sau khi đăng ký bảo vệ thương hiệu và được chấp nhận thì thương hiệu trở thành nhãn hiệu”. Vậy NHHH, tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý có cần phải xây dựng hay không, hay đương nhiên mà có?

Trong các công ước quốc tế và văn bản bảo hộ sở hữu trí tuệ của Việt Nam chỉ đề cập đến các đối tượng NHHH, chỉ dẫn địa lý, tên gọi xuất xứ. Các khái niệm này chỉ các đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp khác nhau cả về vai trò lẫn chức năng và cách thức. Trong công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp thì tên thương mại của doanh nghiệp được bảo hộ ở tất cả các quốc gia mà không cần phải đăng ký bảo hộ. Tên thương mại cũng có thể được đăng ký bảo hộ khi được sử dụng như một nhãn hiệu hàng hoá. Khi đó, tên thương mại không chỉ giúp phân biệt doanh nghiệp mà còn giúp phân biệt sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp cung cấp.

Với tất cả các lý do trên, việc dùng một cụm từ Thương hiệu trong các chương trình phát triển và tuyên truyền ở Việt Nam hiện nay gây nên cách hiểu không thống nhất giữa các đơn vị ban ngành và doanh nghiệp. Tác giả cho rằng, nếu muốn sử dụng một cụm từ chung cần phải có định nghĩa cụ thể và thống nhất cho nó bằng các văn bản mang tính chất pháp qui. Hoặc, nên sử dụng các cụm từ chuẩn thống nhất với thế giới để thuận tiện cho các doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động phát triển và bảo hộ quyền sở hữu đối với các đối tượng này trên thị trường quốc tế.

Theo ý kiến cá nhân của tác giả: thương hiệu có thể được hiểu và chỉ bao gồm là NHHH, tên gọi xuất xứ, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại đã được đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ. Trường hợp các NHHH chưa đăng ký bảo hộ phải là các NHHH nổi tiếng theo các tiêu thức đánh giá chung của quốc tế. Vic đăng ký bảo hộ đảm bảo tính chất thương mại của thương hiệu, có nghĩa là có khả năng chuyển nhượng và mua bán được. Nếu không sẽ xảy ra tình trạng xung đột giống cửa hàng bánh ngọt Kinh Đô ở phố Cửa Nam – Hà Nội với công ty cổ phần bánh ngọt Kinh Đô của thành phố Hồ Chí Minh. Cửa hàng bánh ngọt Kinh Đô ra đời vào năm 1980, từ đó cho đến nay họ vẫn sử dụng cụm từ Kinh Đô cho cửa hàng của mình. Công ty Cổ phần bánh ngọt Kinh Đô ra đời vào những năm cuối thập kỷ 90 nhưng họ lại đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ cho cụm từ Kinh Đô. Giữa năm 2003, Công ty Cổ phần Kinh Đô đã viết đơn kiện ngược dòng cửa hàng bánh ngọt Kinh Đô vi phạm luật khi sử dụng cụm từ Kinh Đô tạo nên sự nhầm lẫn. Kết quả cuối cùng, tên biển hiệu của cửa hàng Kinh Đô, mặc dù ra đời trước, đã phải thay đổi: Cửa hàng bánh ngọt đối diện rạp Kinh Đô.

Một nguyên nhân khác nữa là, trong cuộc bình chọn giải thưởng Sao Vàng Đất Việt tháng 8 vừa qua do Câu lạc bộ Doanh nghiệp trẻ tổ chức nhằm tôn vinh các thương hiệu và sản phẩm, trên 95% nhãn hiệu đoạt giải thưởng đều đã được đăng ký bảo hộ, các nhãn hiệu còn lại được xếp vào nhãn hiệu nổi tiếng.

2. Hoạt động bảo hộ NHHH của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong và ngoài nước

Việc đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu hàng hoá đã được các doanh nghiệp chú trọng và cũng đã nhận được sự quan tâm rõ rệt của xã hội. Nhiều hoạt động tuyên truyền, cổ vũ cho các cố gắng kiến tạo, bồi đắp, phát triển và bảo vệ các đối tượng sở hữu trí tuệ gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh đã được triển khai. Bộ Thương mại còn có cả một chương trình xây dựng thương hiệu xuất khẩu Việt Nam. Nhận thức và hành động thực tiễn của các chủ thể nắm giữ các đối tượng sở hữu trí tuệ đã mang lại một số kết quả đáng phấn khởi. Điều này được thể hiện thông qua bảng số liệu 1.

Nếu chỉ tính số nhãn hiệu hàng hoá mới được các doanh nghiệp Việt Nam đăng ký bảo hộ tại Việt Nam, từ năm 2001 đến 2002, đã tăng hơn 2 lần (năm 2001: 3095 nhãn hiệu, năm 2002: 6.564 nhãn hiệu), đưa tỷ lệ số nhãn hiệu hàng hoá nội địa đăng ký bảo hộ trực tiếp từ 45% (3.095 trong tổng số 6.345) trong năm 2001 lên 74% (6.564 trong tổng số 8.818) vào năm 2002. Số nhãn hiệu của Việt Nam được đăng ký bảo hộ tại nước ngoài theo Thoả ước Madrid cũng tăng: 7 nhãn hiệu trong năm 2001, 31 nhãn hiệu năm 2002 và 54 nhãn hiệu tính đến tháng 7/2003 [1]. Tổng số các nhãn hiệu hàng hoá của Việt Nam được bảo hộ ở trong nước hiện nay là gần 20 ngàn trong tổng số gần 100 ngàn nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ. Bên cạnh đó, 2 tên gọi xuất xứ hàng hoá đầu tiên của Việt Nam là Nước mắm Phú Quốc và Chè Mộc Châu đã được công nhận và bảo hộ.

Bảng 1: Tình hình nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá trực tiếp tại VN

Năm

Đơn đăng ký của người VN

Tỷ lệ (%)

Đơn đăng ký của người nước ngoài

Tỷ lệ (%)

Tổng cộng

1990

890

60,1

592

39,9

1.482

1991

1.747

74,0

613

26,0

2.360

1992

1.595

34,5

3.022

65,5

4.617

1993

2.270

37,0

3.866

63,0

6.136

1994

1.419

34,4

2.712

65,6

4.131

1995

2.217

39,4

3.416

60,6

5.633

1996

2.323

42,7

3.118

57,3

5.441

1997

1.654

34,3

3.165

65,7

4.819

1998

1.614

44,3

2.028

55,7

3.642

1999

2.380

57,1

1.786

42,9

4.166

2000

3.483

59,2

2.399

40,8

5.882

2001

3.095

48,8

3.250

51,2

6.345

2002

6.541

74,2

2.277

25,8

8.818

Tổng

31.228

49,2

32.244

50,8

63.472

Nguồn : Cục Sở hữu Công nghiệp – Bộ Khoa học công nghệ, 2003

Xét về khía cạnh nào đó, hoạt động phát triển nhãn hiệu hàng hoá của doanh nghiệp Việt Nam đã có bước tăng trưởng cao. Một số doanh nghiệp Việt Nam đã trở thành chủ sở hữu hàng chục nhãn hiệu hàng hoá khác nhau như: TCT Thuốc lá Việt Nam có 143 nhãn hiệu, Công ty Thực phẩm quận 5 TP HCM có 58 nhãn hiệu, Công ty sữa Việt Nam VINAMILK có 23 nhãn hiệu…[2]

Tuy nhiên, kết quả đó không thể làm chúng ta yên tâm. Theo Cục sở hữu trí tuệ, cho đến tháng 7 năm 2003, số lượng nhãn hiệu hàng hoá mà các doanh nghiệp ASEAN đã đăng ký bảo hộ tại Việt Nam lớn gấp 3 lần so với con số vài trăm nhãn hiệu hàng hoá Việt Nam đăng ký bảo hộ tại nước ngoài. Các doanh nghiệp Singapore đăng ký tại Việt Nam 997 nhãn hiệu; Thái Lan đăng ký 699 nhãn hiệu, các doanh nghiệp Malaysia đăng ký 338 nhãn hiệu; Indonesia đăng ký 319 nhãn hiệu, doanh nghiệp Philippines đăng ký 179 nhãn hiệu. Nhãn hiệu các doanh nghiệp Việt Nam đăng ký tại thị trường trong nước khoảng 21.000 [1]. Theo ông Trần Việt Hùng- Cục phó Cục Sở hữu công nghiệp thì thống kê này cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp khó khăn hơn trong việc lựa chọn nhãn hiệu mới. Đặc biệt là các doanh nghiệp Việt Nam có nguy cơ bị các doanh nghiệp nước ngoài lấn sân nhãn hiệu ngay trên thị trường nội địa. Bởi vì, theo quy định quốc tế, khu vực về bảo hộ sở hữu trí tuệ thì doanh nghiệp nào nộp đơn trước có quyền ưu tiên và sẽ thắng.

Hàng nông sản, mặt hàng chủ lực của Việt Nam, chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch xuất khẩu, nhưng chủ yếu vẫn xuất khẩu dưới dạng thô, và đến 90% lượng nông sản xuất khẩu phải qua trung gian dưới NHHH của nước ngoài. Theo kết quả điều tra tại các tỉnh, thành phố phía Bắc của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, chỉ có 37/173 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh mặt hàng nông sản, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y đã đăng ký NHHH, chiếm 21%, trong đó chỉ có 2% doanh nghiệp có đăng ký NHHH với nước ngoài [3].

3. Thủ tục đăng ký bảo hộ NHHH theo thoả ước Madrid.

Thoả ước Madrid về đăng ký NHHH có hiệu lực từ năm 1891. Việt Nam là thành viên của thoả ước này từ năm 1949, tính đến 2002 có 52 quốc gia tham gia Thoả ước.

Việc đăng ký quốc tế NHHH theo Thoả ước Madrid có một số lợi thế đối với chủ NHHH. Sau khi đăng ký NHHH, hoặc nộp đơn đăng ký với Cơ quan xuất xứ, chủ nhãn hiệu chỉ phải nộp một đơn, bằng một ngôn ngữ, cho một cơ quan và chỉ phải nộp các khoản lệ phí cho một Cơ quan thay vì phải nộp cho từng Cơ quan của các bên tham gia khác nhau bằng các ngôn ngữ khác nhau. Khi gia hạn hoặc đăng ký sửa đổi, chủ sở hữu cũng được hưởng những lợi ích tương tự.

Cho đến nay, số nhãn hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam đăng ký ở nước ngoài theo Thoả ước Madrid là 54 nhãn hiệu [1].

Điều kiện nộp đơn theo Thoả ước Madrid:

+ Đơn đăng ký chỉ có thể nộp bởi một thể nhân hoặc một pháp nhân có trụ sở kinh doanh hoặc cư trú hoặc là công dân của một nước tham gia Thoả ước;

+ Một NHHH có thể là đối tượng của một đăng ký quốc tế chỉ khi NHHH đó đã được đăng ký (được cấp giấy chứng nhận đăng ký NHHH) tại một Cơ quan xuất xứ;

+ Một đơn quốc tế phải chỉ định một hoặc nhiều bên tham gia (trừ bên tham gia là Cơ quan xuất xứ) nơi NHHH cần được bảo hộ. Các bên tham gia khác có thể chỉ định sau. Một bên tham gia chỉ có thể được chỉ định khi các bên đều là thành viên của Thoả ước Madrid;

+ Đơn quốc tế phải được nộp cho văn phòng quốc tế thông qua Cơ quan xuất xứ. Đơn phải có, trong số những nội dung khác, một mẫu nhãn hiệu (phải trùng với nhãn hiệu đã đăng ký tại cơ sở) và danh mục những hàng hoá và dịch vụ cần được bảo hộ được phân loại theo Bảng phân loại quốc tế về hàng hoá và dịch vụ (Bảng phân loại Nice). Đơn được làm bằng tiếng Pháp.

+ Đơn quốc tế phải chịu các khoản phí sau:

· Phí cơ bản (653 Fr. Thuỵ Sĩ cho nhãn hiệu đen trắng; 903 Fr. Thuỵ Sĩ cho đơn yêu cầu bảo hộ màu)

· Phí bổ sung đối với mỗi bên tham gia được chỉ định (73 Fr. Thuỵ Sĩ cho mỗi nước);

· Phụ phí đối với mỗi nhóm hàng hoá và dịch vụ vượt quá 3 nhóm.

Đăng ký quốc tế có hiệu lực 10 năm, có thể gia hạn nhiều lần, mỗi lần 10 năm với điều kiện phải nộp phí gia hạn.

(MKLAW FIRM: sưu tầm & biên tập)

4. Tại sao doanh nghiệp vấn thờ ơ với việc bảo hộ nhãn hiệu

"Mất bò mới lo làm chuồng", đòi lại nhãn hiệu là một việc phức tạp, tốn kém và gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp, nhưng đó lại là thực trạng hay xảy ra với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta.

Trong thời gian 10 năm từ 1990 đến 2000, việc đăng ký nhãn hiệu trong nước đã tăng đáng kể và thực sự đột phá từ năm 2000 khi nước ta phấn đấu gia nhập WTO và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới.

Lượng đơn gửi đến Cục Sở hữu trí tuệ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa ở nước ngoài trong năm 2004 đã lên tới hơn 17.000 đơn và trong năm 2005 dự kiến có thể sẽ lên đến 20.000. Sự thay đổi này phần lớn là do tác động từ một số vụ doanh nghiệp nước ta bị mất nhãn hiệu ở nước ngoài.

Theo TS Trần Việt Hùng, Phó cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, lợi ích của việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa gần đây đã được các doanh nghiệp nhận thấy rõ ràng. Nhãn hiệu là tài sản vô hình lớn nhất của các doanh nghiệp nên việc bảo vệ không hề đơn giản. Nhãn hiệu chỉ có tính chất lãnh thổ nên các doanh nghiệp muốn tham gia xuất khẩu, vươn ra thị trường lớn và mới trên thế giới thì nhãn hiệu phải được đăng ký ở cơ quan Nhà nước để có thể xác lập quyền chủ sở hữu.

>> Luật sư tư vấn bảo hộ nhãn hiệu quyền tại Việt Nam 0986.386.648

Nếu nhãn hiệu không được đăng ký, nó sẽ thành vô chủ. Khi ấy, mọi sự vi phạm, tranh chấp nhãn hiệu sẽ không có căn cứ để các cơ quan chức năng giải quyết.

Ông Phạm Quang Hưng, Công ty T&A Việt Nam cho biết, nhãn hiệu có thể chiếm đến 90% giá trị của hàng hóa trên thị trường. Việc xây dựng một nhãn hiệu là đầu tư chứ không phải tiêu tiền. Nhãn hiệu là để bán, xuất khẩu, làm hài lòng khách hàng chứ không phải để thỏa mãn cá nhân chủ sở hữu. Chính vì vậy, nhãn hiệu phải được đăng ký và bảo hộ ở cả trong và ngoài nước.

Thực tế cho thấy, khi các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu sẽ gặp phải những tranh chấp nhãn hiệu. Ông Bạch Thanh Bình, Văn phòng luật sư Phạm & liên danh cho biết các doanh nghiệp này thường chỉ chú trọng khâu sản xuất, còn khâu tiêu thụ phó mặc cho các đại lý, đối tác kinh doanh. Tranh chấp xảy ra khi các đại lý này đăng ký nhãn hiệu ở nước sở tại và coi như nhãn hiệu của mình.

Đã có rất nhiều trường hợp các doanh nghiệp nước ta bị mất thương hiệu ở nước ngoài do không đăng ký như: bánh phồng tôm Sa Giang, kẹo dừa Bến Tre, cà phê Trung Nguyên, PetroVienam, thuốc lá Vinataba... Mất nhãn hiệu không chỉ là mất đi thị trường, mất bạn hàng, mất thương hiệu mà sẽ thiệt hại, tốn kém rất lớn cho các doanh nghiệp.

Điển hình nhất có lẽ là trường hợp võng xếp Duy Lợi, doanh nghiệp đã mất quyền xuất khẩu khi chỉ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp và kiểu dáng công nghiệp trong nước mà không đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài nên đã bị đối tác đăng ký bảo hộ dưới dạng sáng chế.

Điều đáng báo động với nhiều doanh nghiệp nước ta, kể cả những doanh nghiệp lớn là vẫn còn "thờ ơ" với việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài. Theo con số thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ, chỉ có khoảng 1.000 nhãn hiệu của các doanh nghiệp nước ta được đăng ký ở nước ngoài. Đây là con số quá nhỏ so với thực tế tình hình xuất khẩu của nước ta hiện nay.

Để đẩy mạnh việc đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài, ông Hùng cho rằng, vấn đề quan trọng nhất vẫn là ý thức và sự hiểu biết của các doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp nhận thức được tầm quan trọng của nhãn hiệu thì nhãn hiệu sẽ được đăng ký ở nước ngoài và ở những thị trường xuất khẩu quan trọng. Chính các doanh nghiệp phải tự bảo vệ nhãn hiệu và thị trường của mình trước sự sôi động của nền kinh tế thế giới.

Đăng ký nhãn hiệu ở nước ngoài, các doanh nghiệp có thể làm việc với quốc gia đó hoặc theo quy định của thỏa ước quốc tế. Nếu theo quy định của Thỏa ước Madrid thì hoàn toàn dễ dàng vì doanh nghiệp sẽ nhận được sự hướng dẫn từ Cục Sở hữu trí tuệ và các đại diện. Cục sẽ giúp đỡ các doanh nghiệp và là trung gian chuyển nhu cầu đăng ký. Nếu đăng ký ngoài 54 nước trong Thỏa ước, thì các doanh nghiệp sẽ phải theo trình tự thủ tục làm việc trực tiếp với nước sở tại.

Việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài sẽ gặp khó khăn tốn kém kinh phí bởi nếu đăng ký ở trong nước, mỗi nhãn hiệu chỉ mất khoảng 1 triệu đồng nhưng đăng ký ở nước ngoài, các doanh nghiệp sẽ phải mất khoảng 1.000 USD. Tuy nhiên, nó sẽ rẻ hơn rất nhiều nếu chúng ta phải đòi lại khi bị mất, chiếm đoạt hoặc khi tranh chấp.

Muốn giữ vững thị trường, ổn định xuất khẩu, không còn con đường nào khác, các doanh nghiệp Việt Nam phải đăng ký bảo hộ nhãn hiệu ở nước ngoài...

(MKLAW FIRM: Biên tập)

5. Đăng ký nhãn hiệu SAFARI HAVE WILDLY FUN

Công ty Luật Minh Khuê là đối tác tin cậy trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng và các dịch vụ pháp lý trong các lĩnh vực khác nói chung với tiêu chí trung thực, uy tín và chất lượng.

1, Thông tin chủ đơn:

Tên đầy đủ: CÔNG TY CỔ PHẦN VƯỜN THÚ MỸ QUỲNH

Địa chỉ: Đường Đức Hòa III, Khu công nghiệp Đức Hòa 3 – Slico, Ấp Đức Hạnh, Xã Đức Lập Hạ, Huyện Đức Hòa, Tỉnh Long An.

2. Thông tin nhãn hiệu:

- Mẫu nhãn hiệu:

Đăng ký nhãn hiệu SAFARI HAVE WILDLY FUN

- Mô tả nhãn hiệu:

Màu sắc: Màu vàng da cam, màu trắng.

Mô tả: Nhãn hiệu bao gồm phần chữ và phần hình.

Phần chữ: Phần chữ là chữ “MY SAFARI” được viết in hoa, in đậm có màu vàng da cam, được thiết kế cách điệu, có nghĩa là “cuộc hành trình của tôi”. Trong đó, chữ “MY” nằm bên trên chữ “SAFARI”, bên dưới chữ “SAFARI” là chữ “HAVE WILDLY FUN” có nghĩa là “niềm vui hoang dã” được viết in hoa, in đậm, có màu vàng da cam, cỡ chữ nhỏ hơn chữ “MY SAFARI”.

Phần hình: Bên phải chữ “MY” và bên trên chữ “SAFARI” là hình vẽ con hươu cao cổ có màu vàng nâu xen kẽ màu trắng. Trên cổ của con hươu đeo hình chữ “Q” được thiết kế cách điệu có màu vàng da cam. Ở giữa chữ “SAFARI” và chữ “HAVE WILDLY FUN” là một đường thẳng nằm ngang, nét đậm có màu vàng da cam.

Nhãn hiệu đăng kí bảo hộ tổng thể.

- Lĩnh vực đăng ký bảo hộ:

Nhóm 41: Dịch vụ vườn bách thú.

- Số đơn: 4-2016-12370

Quý khách hàng có nhu cầu đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam vui lòng liên hệ trực tiếp với Chúng tôi để được tư vấn!

Dịch vụ đăng ký nhãn hiệu độc quyền.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ: 0986.386.648

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: lienhe@luatminhkhue.vn

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Sở hữu Trí tuệ - Công ty luật Minh Khuê