Trả lời:
Theo hướng dẫn tại điểm 2.5 khoản 2 mục III phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC ngày 30-9-2008 của Bộ Tài chính, căn cứ xác định thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, đất ở duy nhất được miễn thuế là do người chuyển nhượng bất động sản tự khai và tự chịu trách nhiệm về tính trung thực trong bản khai. Nếu sau này cơ quan thuế phát hiện lời khai trên là không đúng thì sẽ bị xử lý bằng cách truy thu thuế và phạt về hành vi gian lận thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế.

Bản khai cần được UBND cấp xã chứng thực chữ ký và nộp tại Chi cục Thuế nơi có bất động sản chuyển nhượng sau khi hai bên đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng bất động sản.

Do chưa nhận thừa kế bất động sản của cha mẹ nên bạn đọc này chưa được xem là có chung quyền sở hữu căn nhà của cha mẹ để lại. Lập luận của cơ quan thuế cho rằng nên tính bạn ấy có hai căn nhà là không đúng.

Đối với căn nhà đang sở hữu, nếu là nhà ở duy nhất thì khi chuyển nhượng bạn ấy được miễn thuế TNCN.

Bán căn nhà duy nhất có được miễn thuế thu nhập cá nhân không ?

Luật sư tư vấn luật thuế qua điện thoại gọi:  1900 6162

Giảm trừ gia cảnh cho người nộp thuế

- Đối với người em bị tàn tật, không có khả năng lao động, không có thu nhập hoặc thu nhập bình quân không vượt quá 500.000 đồng/tháng và không nơi nương tựa, bạn đọc này có thể khai em ấy là người phụ thuộc của mình. Ngoài bản sao hộ khẩu, bạn ấy phải lập bản tự khai và đề nghị UBND cấp xã nơi người phụ thuộc đang sống xác nhận biểu hiện cụ thể về bệnh tâm thần, không có khả năng lao động.

- Trường hợp này được xác định là cá nhân cư trú, có thu nhập từ tiền lương, tiền công. Do đó, đối tượng cũng được giảm trừ cho bản thân 4 triệu đồng/tháng vào thu nhập chịu thuế. Cha mẹ ở quê nhà nếu trong tuổi lao động chỉ được tính giảm trừ 1,6 triệu đồng/người/tháng nếu thỏa mãn đồng thời hai điều kiện: tàn tật, không có khả năng lao động; không có thu nhập hoặc thu nhập bình quân dưới 500.000 đồng/tháng. Riêng vợ bạn đọc này đã 20 tuổi và đang đi học thì không được giảm trừ. Sau khi tính giảm trừ, nếu có thu nhập tính thuế thì áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần để tính số thuế TNCN phải tạm nộp hằng tháng.

Khai quyết toán thuế

- Cá nhân vừa có thu nhập từ kinh doanh, vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công ổn định, nếu đã chọn đăng ký giảm trừ gia cảnh tại Chi cục Thuế nơi kinh doanh thì phải thông báo cho công ty nơi họ làm việc biết để không tính giảm trừ gia cảnh trùng và được tính thuế TNCN theo biểu thuế lũy tiến từng phần từ tiền lương. Kết thúc năm, bạn đọc này phải lập tờ khai quyết toán thuế TNCN với tổng thu nhập từ hai nơi (thu nhập cho thuê nhà + tiền lương), tính một lần các khoản giảm trừ để xác định thu nhập tính thuế TNCN cả năm, nộp tờ khai quyết toán tại Chi cục Thuế quận 5.

- Theo Điều 4 Luật Thuế TNCN, thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường là thu nhập được miễn thuế. Như vậy, trường hợp chăn nuôi gia công không phải đóng thuế TNCN.

- Người nước ngoài ký hợp đồng lao động làm việc tại công ty (có thời gian có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc liên tục trong 12 tháng kể từ ngày đến Việt Nam) là cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương thuộc đối tượng nộp thuế TNCN. Thủ tục đăng ký thuế, kê khai giảm trừ gia cảnh người phụ thuộc, tính miễn trừ thuế TNCN được thực hiện như các cá nhân cư trú người Việt Nam có thu nhập.

Hồ sơ hoàn thuế TNCN gồm có:

Tờ khai quyết toán thuế TNCN (đối với các đối tượng phải quyết toán thuế TNCN); văn bản đề nghị giảm thuế theo mẫu (đối với những cá nhân được giảm thuế TNCN do bị thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo có yêu cầu hoàn thuế); chứng từ khấu trừ thuế, biên lai thu thuế TNCN (bản chính).

Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán đăng ký nộp thuế theo thuế suất 20% thuộc đối tượng phải khai quyết toán thuế; cá nhân được giảm thuế do bị thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, mắc bệnh hiểm nghèo sau khi được giảm thuế có số thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp, nếu có yêu cầu hoàn thuế thì phản ánh vào chỉ tiêu “Tổng số thuế đề nghị hoàn” tương ứng tại các tờ khai, kèm theo các chứng từ, biên lai nộp thuế và nộp tại cơ quan thuế.

(Theo Thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 5-2-2010 của Bộ Tài chính)

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật về thuế - Công ty luật Minh Khuê