1. Công ty em có ký hợp đồng lao động thời vụ dưới 3 tháng cho người lao động với mức lương trên 2.000.00đ/ tháng. 

Theo điểm i khoản 2.2 điều 25 của thông tư 111 ngày 15 tháng 8 năm 2013 người lao động chưa đến mức bị khấu trừ 10%. Vì vậy công ty đã trả lương cho người lao động. Sau khi trả lương xong mấy tháng sau người lao động mới đăng ký được mã số thuế và gửi bản cam kết mẫu số 23 lên công ty như vậy có được không ạ hay là phải có mã số thuế và bản cam kết ngay sau khi ký hợp đồng.
2. Công ty em ký hợp đồng lao động thời vụ 6 tháng cũng như trường hợp 1...không khấu trừ 10 % nếu lao động 6 tháng có phải làm bản cam kết không ạ.

Người hỏi: V.C

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật thuế Công ty luật Minh Khuê,

Luật sư tư vấn luật thuế gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của mình tới công ty luật Minh Khuê, dựa trên thông tin mà bạn cung cấp xin tư vấn cho bạn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân.

Nội dung phận tích

1. Cá nhân có hợp đồng lao động dưới 3 tháng

Trong trường hợp này, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC quy định về việc khấu trừ thuế như sau:

"i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhânchưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết."

Về nguyên tắc, cá nhân cư trú có hợp đồng lao động dưới 03 tháng hoặc không có hợp đồng lao động phải nộp thuế với mức 10% đối với mỗi lần trả thu nhập từ 2.000.000 đồng trở lên, tổ chức trả thu nhập khấu trừ thuế của cá nhân và có trách nhiệm nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, nếu cá nhân xét thấy thu nhập cả năm của mình không đạt mức chịu thuế thì có thể làm cam kết để tạm thời không phải khấu trừ thuế. Vậy để tổ chức trả thu nhập tạm thời không khấu trừ thuế của cá nhân cư trú thì phải đáp ứng được các điều kiện sau:

-Chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất và tổng mức thu nhập không đến mức phải chịu thuế sau khi đã giảm trừ gia cảnh trong năm.

-Đã có mã số thuế

- Mỗi lần chi trả thu nhập từ 2.000.000 đồng trở lên.

-Có hợp đồng lao động dưới 3 tháng hoặc không có hợp đồng lao động

-Làm cam kết 23/CK-TNCN (Đã thay thế bởi cam kết 02/CK-TNCN ban hành kèm theo thông tư 92/2015/TT-BTC). 

2. Về cá nhân có hợp đồng 6 tháng

Theo như phân tích tại ý 1 thì cá nhân lfm cam kết để tổ chức trả thu nhập tạm thời không khấu trừ thuế. Và trường hợp áp dụng cam kết chỉ trong trường hợp không có hợp đồng lao động hoặc hợp đồng lao động dưới 03 tháng. Trường hợp này đã ký hợp đồng 6 tháng thì bắt buộc phải khấu trừ theo biểu thuế lũy tiến từng phần nếu phát sinh thu nhập tính thuế theo quy định tại thông tư 111/2013/TT-BTC.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế.