Tôi bắt đầu đi làm từ ngày 03/10/2014, công ty tính lương đến ngày 19/10 nên tháng vừa rồi lương và phụ cấp ăn trưa của tôi khoảng 1.900.000 đồng và được trả vào ngày 31/10/2014. Tôi hết hai tháng thử việc và ký hợp đồng lao động. Trong thời gia thử việc tôi bị khấu trừ 10% tiền thuế TNCN. Khi tra cứu mã số thuế thì tôi đã có mã số thuế được cấp vào ngày 13/09/2013 (do từng làm nhiều công việc bán thời gian và thời vụ trong thời gian còn là sinh viên nên tôi không rõ mã số thuế được cấp khi tôi làm công việc nào.

Luật sư cho tôi hỏi nếu sau khi ký hợp đồng lao động thì tôi có được hoàn thuế TNCN vào cuối năm không? Hoặc tôi làm biểm mẫu cam kết 23/CK-TNCN có nguồn thu nhập duy nhất để không bị khấu trừ thuế TNCN có được không? Cơ sở pháp lý?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: M.X

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật thuế của công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào chị, cảm ơn chị đã gửi thắc mắc của mình đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin mà chị cung cấp xin được tư vấn cho chị như sau:

Cơ sở pháp lý

-Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập cá nhân, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế thu nhập cá nhân và nghị định 65/2013/NĐ-CP của chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành luật thuế thu nhập cá nhân, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuế thu nhập cá nhân

-Thông tư 156/2013/TT-BTC hướng dẫn thi hành luật quản lý thuế; luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật quản lý thuế và nghị định 83/2013/NĐ-CP

- Công văn 23282/CT-HTr về chính sách thuế

Nội dung phân tích

1.Về việc hoàn thuế

Về vấn đề hoàn thuế thì chị chỉ được hoàn thuế khi đáp ứng được các điều kiện quy định tại  Điều 28 Thông tư 111/2013/TT-BTC như sau:

“1. Việc hoàn thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với những cá nhân đã đăng ký và có mã số thuế tại thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế.

Cùng với đó, Điều 53 Thông tư 156/2013/TT-BTC cũng quy định về điều kiện để được hoàn thuế như sau:

“Việc hoàn thuế thu nhập cá nhân chỉ áp dụng đối với những cá nhân đã có mã số thuế tại thời điểm đề nghị hoàn thuế.”

Căn cứ vào những quy định nêu trên thì việc hoàn thuế phải đáp ứng được các điều kiện sau:

-Có số thuế nộp thừa tại thời điểm quyết toán thuế

-Có đề nghị hoàn thuế

-Có mã số thuế tại thời điểm hoàn thuế.

Căn cứ vào mức lương mà chị MX nêu ra thì sau khi ký hợp đồng lao động, tiền lương theo hợp đồng lao động của chị là 2.890.000 đồng, phụ cấp ăn trưa là 650.000 đồng, tiền thưởng 1.000.000 đồng. Như vậy, nếu thu nhập của chị ổn định trong một năm thì tổng thu nhập một năm của chị chưa đến ngưỡng phải nộp thuế thu nhập cá nhân, nên số thuế 10% mà công ty khấu trừ của chị trong thời gian thử việc nếu chị có yêu cầu thì chị sẽ được hoàn thuế.

Về trình tự, thủ tục hoàn thuế được thực hiện theo quy định tại Điều 53 Thông tư 156/2013/TT-BTC. Theo đó,

-Nếu chị ủy quyền cho tổ chức trả thu nhập quyết toán thuế thì sau khi bù trừ số thuế nộp thừa, nộp thiếu của các cá nhân mà có số thuế nộp thừa, nếu có đề nghị thì cơ quan thuế sẽ hoàn trả. Tổ chức trả thu nhập nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế bao gồm:

+ Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách nhà nước theo mẫu số 01/ĐNHT ban hành kèm theo Thông tư này.

+ Bản chụp chứng từ, biên lai nộp thuế thu nhập cá nhân và người đại diện hợp pháp của tổ chức, cá nhân trả thu nhập ký cam kết chịu trách nhiệm tại bản chụp đó.

-Nếu chị tự mình quyết toán nếu có số thuế nộp thừa thì cá nhân không phải nộp hồ sơ hoàn thuế mà chỉ cần ghi số thuế đề nghị hoàn vào chỉ tiêu [45] - “Số thuế hoàn trả vào tài khoản NNT” hoặc chỉ tiêu [47] - “Tổng số thuế bù trừ cho các phát sinh của kỳ sau” tại tờ khai quyết toán thuế theo mẫu số 09/KK-TNCN khi quyết toán thuế.

Như vậy, nếu đáp ứng được các điều kiện trên, chị MX sẽ được hoàn thuế.

2.Về cam kết có nguồn thu nhập duy nhất

Trường hợp làm cam kết có nguồn duy nhất thì chị MX chỉ được làm cam kết khi đáp ứng được các điều kiện quy định tại điểm i khoản 1 điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC như sau:

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

Khoản 2 Công văn 23282/CT-HTr cũng quy định như sau:

“2. Người nộp thuế có thu nhập từ hai nơi trở lên thì không thuộc trường hợp được viết cam kết chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân tại Công ty cổ phần Đầu tư thương mại dịch vụ Cầu Giấy theo quy định tại điểm i khoản 1, Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính nêu trên.”

Theo đó, điều kiện để là cam kết mẫu số 23/CK-TNCN bao gồm:

-Đã đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm làm cam kết

-Có thu nhập duy nhất thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% (Đối tượng ký hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên không được làm cam kết).

Sau khi làm cam kết thì tổ chức trả thu nhập tạm thời chưa khấu trừ thuế của cá nhân theo quy định của pháp luật.

Như vậy, chị MX chỉ được làm cam kết 23/CK-TNCN trong thời gian hai tháng thử việc, còn sau khi đã ký hợp đồng lao động từ 03 (ba) tháng trở lên thì không được làm cam kết này.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng công ty Luật Minh Khuê

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ