Xin cảm ơn quý công ty! 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn Luật thuế  công ty Luật Minh Khuê.

Giải đáp thắc mắc về thuế TNDN ?

Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Thông tư 123/2012/TT-BTC  của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định 24/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008

Thông tư số 78/2014/TT-BTC  của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

Nội dung phân tích:

Tại chương VII về việc Tổ chức thực hiện, Điều 23, khoản 1 và khoản 4 Thông tư số 78/2014/TT-BTC quy định:

"1. Thông tư này có hiệu lực từ ngày 02 tháng 08 năm 2014 và áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp từ năm 2014 trở đi.

4. Thông tư này thay thế Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài chính."

Do vậy, Thông tư 123/2012/TT-BTC của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 14/2008/QH12 và hướng dẫn thi hành Nghị định 24/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 đã được thay thế bởi Thông tư số 78/2014/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung bởi thông tư 119/2014/TT-BTC). Những điều khoản quy định tại Thông tư 123/2012/TT-BTC  chỉ có hiệu lực từ thời điểm 02/08/2014 trở về trước (tức là áp dụng cho kỳ tính thuế 2012 và 2013 như bạn trình bày) và hiện tại không còn có hiệu lực thi hành nữa. Chúng tôi có thể giải thích thêm cho bạn như sau: 

Điều 6 khoản 2.16 thông thư 123/2012/TT-BTC quy định: Chi trả lãi tiền vay để góp vốn điều lệ hoặc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh.

Điều 6 Khoản 2.18 thông tư 78/2014/TT-BTC quy định: Chi trả lãi tiền vay vốn tương ứng với phần vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp tư nhân là vốn đầu tư) đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh. Chi trả lãi tiền vay đã được ghi nhận vào giá trị của tài sản, giá trị công trình đầu tư.

Đây đều là quy định về các khoản chi không được trừ khi tính vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp.

 Ví dụ về việc chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ở cả 2 khoản trên, bạn có thể tham khảo tại Công văn 2826 TCT-CS của Tổng cục thuế trả lời Cục thuế tỉnh Đồng Nai về Cách thức xác định chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp như sau: Tại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cấp ngày 02/01/2013, Công ty A đăng ký vốn điều lệ là 10 tỷ đồng và cam kết góp đủ vốn ngay khi thành lập. Thực tế ngày 02/01/2013, các thành viên mới góp được 6 tỷ đồng, số vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu là 4 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 40% số vốn điều lệ đã đăng ký). Ngày 01/04/2013, các thành viên góp thêm 2 tỷ đồng, số vốn điều lệ đã đăng ký còn thiếu là 2 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 20% số vốn điều lệ đã đăng ký). Từ 01/04/2013 đến 31/12/2013 các thành viên không góp thêm vốn. Tổng lãi tiền vay Công ty phải trả trong năm là 1 tỷ đồng, trong đó, lãi tiền vay phải trả giai đoạn từ ngày 02/01 đến ngày 31/03 là 600 triệu đồng, lãi tiền vay phải trả giai đoạn từ ngày 01/04 đến ngày 31/12 là 400 triệu đồng.

Như vậy, chi phí lãi tiền vay không được tính vào chi phí được trừ của giai đoạn từ ngày 02/01 đến ngày 31/03 là 600 triệu đồng x 40% = 240 triệu đồng, của giai đoạn từ ngày 01/04 đến ngày 31/12 là 400 triệu đồng x 20% = 80 triệu đồng. Trong 1 tỷ đồng chi phí lãi tiền vay năm 2013, Công ty A không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp số tiền chi trả lãi tiền vay là 320 triệu đồng.

Khoản 2.18 giải thích rõ ràng hơn đối với doanh nghiệp tư nhân, đó là vốn đầu tư của chủ sở hữu vì doanh nghiệp tư nhân chỉ do một người làm chủ, vốn của chủ sở hữu vay để tạo vốn điều lệ thì lãi số tiền vay đó cũng không được tính vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp tư nhân. Đồng thời khoản này cũng nói rõ hơn lãi tiền vay để tạo tài sản, giá trị công trình đầu tư ban đầu cũng sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế trong kỳ. Về "lãi tiền vay để góp vào vốn điều lệ" quy định tại khoản 2.16 đã được lược bỏ ở khoản 2.18 và cụm từ "lãi tiền vay" ở khoản 2.16 chuyển thành "lãi tiền vay vốn" ở khoản 2.18. Nếu đặt riêng thì có thể 2 cụm từ trên được hiểu khác nhau. "Lãi tiền vay" có thể hiểu là doanh nghiệp đã góp đủ vốn điều lệ, đó là số tiền lãi từ số tiền mà doanh nghiệp vay thêm để thực hiện các hoạt động đầu tư khác. Còn "lãi tiền vay vốn" vẫn hiểu là lãi từ tiền vay để doanh nghiệp làm vốn điều lệ. Nhưng khi đặt chung vào từng khoản thì không có sự khác nhau, thực chất nhà làm luật muốn nói đến lãi tiền vay để góp vào vốn điều lệ còn thiếu. Do vậy, cần hiểu đó là lãi từ tiền vay để góp vào phần vốn điều lệ còn thiếu.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến: 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT DOANH NGHIỆP.