Trong thời gian từ lúc ly hôn đến nay, chị A không thể liên lạc được với anh B và không còn biết thông tin gì về anh B nữa. Tuy nhiên, năm 2017, chị A có nộp hồ sơ giảm trừ cho công ty và được trả lời là không được. Lý do, mã số thuế người phụ thuộc của bé C đã được anh B kê khai giảm trừ. Vì vậy, tuy đã có các bằng chứng về việc trực tiếp nuôi dưỡng bé C nhưng chị A vẫn bị từ chối đăng ký giảm trừ. Hiện tại, chị A không có cách nào để liên hệ với anh B, tuy nhiên được biết mã số thuế anh B dùng để khai giảm trừ bé C là do chi cục thuế quận 4 quản lý (tra cứu trên mạng).

Vậy có cách nào để chị A giành được quyền đăng ký giảm trừ gia cảnh bé C hay không ?

Cảm ơn luật sư!

 

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho bộ phận tư vấn pháp luật thuế. Với nội dung câu hỏi này chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Chị A và anh B có con chung là cháu C, mặc dù anh chị đó đã ly hôn nhưng đứng dưới góc độ pháp luật. Cháu C vẫn là con chung. Theo quy định tại tiết d.1 điểm d Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn luật thuế thu nhập cá nhân thì con là người phụ thuộc bao gồm:

"d.1) Con: con đẻ, con nuôi hợp pháp, con ngoài giá thú, con riêng của vợ, con riêng của chồng, cụ thể gồm:

d.1.1) Con dưới 18 tuổi (tính đủ theo tháng).

Ví dụ 10: Con ông H sinh ngày 25 tháng 7 năm 2014 thì được tính là người phụ thuộc từ tháng 7 năm 2014.

d.1.2) Con từ 18 tuổi trở lên bị khuyết tật, không có khả năng lao động.

d.1.3) Con đang theo học tại Việt Nam hoặc nước ngoài tại bậc học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, kể cả con từ 18 tuổi trở lên đang học bậc học phổ thông (tính cả trong thời gian chờ kết quả thi đại học từ tháng 6 đến tháng 9 năm lớp 12) không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng

Vây, nếu là con mà thuộc một trong các trường hợp nêu trên đều được tính giảm trừ gia cảnh. 

Tuy nhiên, một trong các nguyên tắc tính giảm trừ giả cảnh theo quy định tại tiết c.3 điểm c Khoản 1 Điều 9 Thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn luật thuế thu nhập cá nhân thi:

"c.2) Giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc

c.2.1) Người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu người nộp thuế đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế.

c.2.2) Khi người nộp thuế đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc sẽ được cơ quan thuế cấp mã số thuế cho người phụ thuộc và được tạm tính giảm trừ gia cảnh trong năm kể từ khi đăng ký. Đối với người phụ thuộc đã được đăng ký giảm trừ gia cảnh trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được giảm trừ gia cảnh cho đến khi được cấp mã số thuế.

c.2.3) Trường hợp người nộp thuế chưa tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc trong năm tính thuế thì được tính giảm trừ cho người phụ thuộc kể từ tháng phát sinh nghĩa vụ nuôi dưỡng khi người nộp thuế thực hiện quyết toán thuế và có đăng ký giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc. Riêng đối với người phụ thuộc khác theo hướng dẫn tại tiết d.4, điểm d, khoản 1, Điều này thời hạn đăng ký giảm trừ gia cảnh chậm nhất là ngày 31 tháng 12 của năm tính thuế, quá thời hạn nêu trên thì không được tính giảm trừ gia cảnh cho năm tính thuế đó.

c.2.4) Mỗi người phụ thuộc chỉ được tính giảm trừ một lần vào một người nộp thuế trong năm tính thuế. Trường hợp nhiều người nộp thuế có chung người phụ thuộc phải nuôi dưỡng thì người nộp thuế tự thỏa thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh vào một người nộp thuế."

Vậy, con C chỉ được tính giảm trừ gia cảnh cho anh B Hoặc chị A nên anh B và chi A phải thoản thuận để đăng ký giảm trừ gia cảnh cho một người.Trong trường hợp này, chị A phải liên hệ được với anh B để thỏa thuận với anh B giảm đi người phụ thuộc để chị A mới có thể đăng ký giảm trừ gia cảnh cho cháu C.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Thuế - Công ty luật Minh Khuê