Do sở nhà đất nói rằng em chuyển nhượng nhà hợp đồng xanh thuộc sở hữu nhà của nhà nước, không phải của em. Xin được giải thích thêm là: nhà thuộc sở hữu nhà nước có 2 dạng (1 dạng có sổ hồng, 1 dạng có hợp đồng xanh_hàng tháng phải trả tiền thuê nhà là 50.00 đồng/tháng). Dạng hợp đồng xanh muốn được thuê nhà của nhà nước, phải chuyển nhượng với người đang sở hữu nhà có hợp đồng xanh, trị giá khoảng 700 triệu. Rất mong nhận được tư vấn từ phía luật sư hoặc có thể cung cấp giúp em một số văn bản pháp lý liên quan đến miễn thuế TNCN cho trường hợp của em ?

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lĩnh vực  thuế của Công ty Luật Minh Khuê.

thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng nhà ở

Luật sư tư vấn Luật thuế, gọi 1900 6162

 

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Nghị định 34/2013/NĐ-CP nghị định về quản lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước. 

Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân

2. Nội dung phân tích:

Căn cứ vào dữ kiện mà anh đưa ra thì anh đã thực hiện hợp đồng mua bán nhà thuộc quyền sở hữu nhà nước 

Bên cạnh đấy theo quy định tại điều 30 của nghị định 34/2013/NĐ-CP có quy định về hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước:

"Điều 30. Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước

1. Việc mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước phải thực hiện thông qua hợp đồng mua bán nhà ở ký kết giữa cơ quan quản lý nhà ở với người mua nhà".

Căn cứ vào quy định trên thì hợp đồng mua nhà ở thuộc sở hữu nhà nước phải thực hiện thông qua hợp đồng mua bán nhà ở ký kết giữa ban quản lý nhà ở với người mua nhà. Tuy nhiên hợp đồng này của anh đã ký kết là hợp đồng thuê nhà đã hơn 10 năm hay dưới 10 năm vì theo quy định tại khoản 2 điều 20 Nghị định 34/2013/NĐ-CP quy định về quyền và nghĩa vụ của bên thuê, thuê mua nhà ở xã hội như sau :

"2. Quyền của bên thuê mua nhà ở:

c) Được phép thực hiện các giao dịch về nhà ở sau khi đã thanh toán hết tiền thuê mua cho bên cho thuê mua theo hợp đồng đã ký kết và đã được cấp Giấy chứng nhận, nhưng phải bảo đảm thời gian thuê mua tối thiểu là 10 năm, kể từ thời điểm ký kết hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội. Trường hợp người thuê mua nhà ở chưa đủ thời hạn 10 năm mà có nhu cầu bán thì chỉ được bán lại cho Nhà nước, giá bán không cao hơn mức giá nhà ở xã hội cùng loại tại thời điểm bán";

Căn cứ vào quy định này thì nếu như nhà anh thuê 10 năm và anh đã trả hết tiền thi căn nhà trên sẽ thuộc quyền sở hữu của anh. Số tiền anh phải đóng là 50.000 / tháng là số tiền liên quan đến chi phí bảo trì cho căn nhà của anh. 

Theo quy định này thì anh sẽ được quyền bán nhà cho người khác nếu đã thuê nhà trên 10 năm và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử hữu đối với căn nhà. Còn nếu như chưa đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 2 điều 20 nghị định 34/2013/NĐ-CP thì anh có như cầu bán thì chỉ được bán lại cho nhà nước và giá bán không cao hơn mức giá nhà ở xã hội cùng loại vào thời điểm bán. 

Cả hai trường hợp này, căn nhà được xem như là sở hữu của anh. Do đó nếu như anh chứng minh được đây là tài sản duy nhất, anh chuyển nhượng toàn bộ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hơn 183 ngày tính từ ngày được cấp theo hướng dẫn của thông tư 111/2013/TT-BTC thì anh sẽ đươc miễn thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng bất động sản. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email  hoặc tổng đài luật sư tư vấn trực tuyến 1900 6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn luật thuế - Công ty luật Minh Khuê