Theo em biết thì sau công chứng trong vòng 10 ngày phải lên cục thuế để mua hóa đơn, nhưng công ty em chưa hoàn tất thủ tục ĐKKD, chưa có MST thì em vẫn thực hiện công chứng hợp đồng, sau này khi nào cty bắt đầu hoạt động mới mua hóa đơn từ lúc đó có được không? Nhà em thuê đứng tên đồng sở hữu vợ chồng, giá trị thuê 15tr/tháng.

Như vậy thuế TNCN chia đều cho 2 vc chủ nhà, nhưng bên cty em thì giá thuê nhà >8,4 triệu/tháng, cầm phải có hóa đơn đầu vào nhưng chủ nhà nói là họ chia ra 2 người cùng cho thuê nên không có hóa đơn, như vậy có hợp lý không?

Xin hỗ trợ giúp em. 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật thuế của Công ty Luật Minh Khuê. 

 Tư vấn cách tính thuế thu nhập doanh nghiệp ?

Luật sư tư vấn luật thuế gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Thông tư 39/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành nghị định 51/2010/NĐ-CPnghị định 04/2014/NĐ-CP về hóa đơn bán hàng hóa cung ứng dịch vụ

Luật hôn nhân và gia đình  năm 2014

Thông tư số 111/2013/TT-BTC  hướng dẫn luật thuế thu nhập cá nhân và luật sửa đổi bổ sụng một số điều của luật thuế thu nhập cá nhân và nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật thuế thu nhập cá nhân và luật sửa đổi bổ sụng một số điều của luật thuế thu nhập cá nhân

Công văn số 2270/TCT-CS  của tổng cục Thuế về chính sách thuế đối với hộ gia đình, cá nhân không kinh doanh có tài sản cho thuê

2. Nội dung phân tích

2.1. Về việc mua hóa đơn của cơ quan thuế

Căn cứ vào khoản 1 điều 11 thông tư 39/2014/TT-BTC thì những đối tượng sau mua hóa đơn của cơ quan thuế :

"1. Cơ quan thuế bán hóa đơn cho các đối tượng sau:
a) Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh (bao gồm cả hợp tác xã, nhà thầu nước ngoài, ban quản lý dự án).
Tổ chức không phải là doanh nghiệp nhưng có hoạt động kinh doanh là các tổ chức có hoạt động kinh doanh nhưng không được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác.
b) Hộ, cá nhân kinh doanh;
c) Tổ chức kinh doanh, doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp theo tỷ lệ % nhân với doanh thu.
d) Doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in thuộc loại rủi ro cao về thuế;
đ) Doanh nghiệp đang sử dụng hóa đơn tự in, đặt in có hành vi vi phạm về hóa đơn bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
Doanh nghiệp hướng dẫn tại điểm d, đ khoản này mua hóa đơn của cơ quan thuế trong thời gian 12 tháng. Hết thời gian 12 tháng, căn cứ tình hình sử dụng hóa đơn, việc kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp và đề nghị của doanh nghiệp, trong thời hạn 5 ngày làm việc, cơ quan thuế có văn bản thông báo doanh nghiệp chuyển sang tự tạo hóa đơn để sử dụng hoặc tiếp tục mua hóa đơn của cơ quan thuế nếu không đáp ứng điều kiện tự in hoặc đặt in hóa đơn (mẫu số 3.15 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này).

Căn cứ vào điều 12 thông tư  39/2014/TT-BTC thì hồ sơ mua hóa đơn của cơ quan thuế bao gồm các giấy tờ sau:

- Đơn đề nghị mua hóa đơn

- Tổ chức, hộ, cá nhân mua hóa đơn lần đầu phải có văn bản cam kết (Mẫu số 3.16 Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư này) về địa chỉ sản xuất, kinh doanh phù hợp với giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép đầu tư (giấy phép hành nghề) hoặc quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền

- Mẫu áp dụng phương pháp tính thuế GTGT ( bản phô tô mà cơ quan thuế đã đóng dấu hoặc công văn trả lời của cơ quan)

- Giấy phép kinh doanh

- Người mua hóa đơn (người có tên trong đơn hoặc người được doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh, chủ hộ kinh doanh ủy quyền bằng giấy ủy quyền theo quy định của pháp luật) phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân còn trong thời hạn sử dụng theo quy định của pháp luật về giấy chứng minh nhân dân.
Như vậy công ty của bạn có thể mua hóa đơn của cơ quan thuế khi đã được cấp chứng nhận đăng kí kinh doanh và được cấp mã số thuế.

2.2. Về hóa đơn thuê nhà làm văn phòng:

- Tại khoản 1, Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận”.

- Tại khoản 1, Điều 38 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: "Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết"

- Tại điểm c khoản 1 điều 8 thông tư số 111/2013/TT-BTC hướng dẫn :

"Trường hợp nhiều người cùng đứng tên trong một Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh kể cả trường hợp cho thuê nhà, thuê mặt bằng có nhiều người cùng đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi chung là nhóm cá nhân kinh doanh), sau khi đã xác định được thu nhập chịu thuế từ kinh doanh theo hướng dẫn tại điểm a và b, khoản 1, Điều này, thu nhập chịu thuế của mỗi cá nhân được phân chia theo một trong các cách sau đây:

c.1) Theo tỷ lệ vốn góp của từng cá nhân ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

c.2) Theo thỏa thuận giữa các cá nhân.

c.3) Theo số bình quân thu nhập đầu người trong trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh không xác định tỷ lệ vốn góp hoặc không có thỏa thuận về phân chia thu nhập giữa các cá nhân.

Trên cơ sở thu nhập chịu thuế của mỗi cá nhân cùng tham gia kinh doanh đã xác định theo nguyên tắc phân chia nêu trên, từng cá nhân được tính các khoản giảm trừ theo hướng dẫn tại Điều 9, Thông tư này để xác định thu nhập tính thuế và số thuế thu nhập cá nhân phải nộp riêng cho từng cá nhân."

Căn cứ các quy định và hướng dẫn trên, trường hợp hai vợ chồng có nhà cho thuê thì khi xác định thu nhập chịu thuế để tính thuế thu nhập cá nhân như sau:

- Trường hợp trên hợp đồng cho thuê tài sản đứng tên một vợ hoặc chồng thì cá nhân đứng tên phải kê khai, nộp thuế thu nhập cá nhân hoặc toàn bộ thu nhập từ hoạt động cho thuê tài sản đó, không thực hiện phân chia thu nhập để tính thuế thu nhập cá nhân;

- Trường hợp cả hai vợ chồng cùng đứng tên trên Hợp đồng cho thuê tài sản và có văn bản phân chia thu nhập từ hoạt động cho thuê tài sản chung thì thực hiện phân chia thu nhập để tính thuế thu nhập cá nhân cho từng cá nhân theo tỷ lệ đã thỏa thuận.

Do đó việc chủ nhà chia đều số tiền thuê cho hai vợ chồng khi vợ chồng cho thuê nhà cùng đứng tên sở hữu là hợp lý.

Công văn số 2270/TCT-CS hướng dẫn: "Trường hợp hộ, cá nhân không kinh doanh có tài sản cho thuê như cho thuê nhà làm văn phòng, cho thuê nhà, đất làm địa điểm đặt trạm phát sóng... mà tiền cho thuê hàng năm từ một trăm triệu đồng trở xuống thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, cơ quan thuế không cấp hóa đơn lẻ, cơ sở đi thuê phải sử dụng Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào kèm theo hợp đồng thuê địa điểm và chứng từ thanh toán để làm chứng từ hạch toán chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN."

Trong bài viết bạn không nói chủ nhà có mấy căn nhà cho thuê nên chúng tôi không thể xác định được việc chủ nhà không đưa hóa đơn cho thuê nhà cho công ty bạn có hợp lý không? Nếu chủ nhà chỉ có một căn nhà cho bạn thuê làm văn phòng công ty với giá thuê là 15 triệu đồng/ tháng. Như vậy trong một năm số tiền cho thuê của mỗi vợ chồng là 7.5 triệu*12= 90 triệu. Căn cứ vào công văn 2270/TCY-CS thì không cần hóa đơn thuê nhà. Công ty bạn chỉ phải  sử dụng Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào kèm theo hợp đồng thuê địa điểm và chứng từ thanh toán để làm chứng từ hạch toán chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua email: Tư vấn pháp luật qua Email hoặc tổng đài 1900.6162 để được tư vấn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê