Khi chúng tôi làm khai báo thuế thì cơ quan thuế cho biết là sai quy định và chỉ có đơn vị trực tiếp giao dịch với nước ngoài mới được xuất hóa đơn 0%, còn chúng tôi thì không được, và chúng tôi cũng hỏi một số nơi như vậy có đúng không thì người nói được, người nói không, cơ quan thuế cũng ko chắc chắn vì câu trả lời của mình. Nên tôi xin phép gõ cữa Luật Minh Khuê để được tư vấn giúp

- Xin hỏi, Cơ quan thuế làm trả lời như vậy có đúng không,

- Và hướng giải quyết của chúng tôi để sữa sai. 

- Nếu được thì cảm phiền Quý Công Ty gửi cho chúng tôi thông tư, nghị đinh hướng dẫn về nội dung trên,

Trân trọng cảm ơn 

Người gửi: Lê Thế Liệu

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời

Chào anh, dựa vào những thông tin mà anh cung cấp thì xin được tư vấn cho anh như sau:

Theo quy định tại khoản 16 Điều 7 Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Bộ tài chính về Hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng.

"16. Đối với dịch vụ du lịch theo hình thức lữ hành, hợp đồng ký với khách hàng theo giá trọn gói (ăn, ở, đi lại) thì giá trọn gói được xác định là giá đã có thuế GTGT

Giá tính thuế được xác định theo công thức sau:

Giá tính thuế=    Giá trọn gói : (1 + thuế suất)
Trường hợp giá trọn gói bao gồm cả các khoản chi vé máy bay vận chuyển khách du lịch từ nước ngoài vào Việt Nam, từ Việt Nam đi nước ngoài, các chi phí ăn, nghỉ, thăm quan và một số khoản chi ở nước ngoài khác (nếu có chứng từ hợp pháp) thì các khoản thu của khách hàng để chi cho các khoản trên được tính giảm trừ trong giá (doanh thu) tính thuế GTGT. Thuế GTGT đầu vào phục vụ hoạt động du lịch trọn gói được kê khai, khấu trừ toàn bộ theo quy định".

Khoản 1 Điều 9 Thông tư 219/2013/TT-BTC quy định về các trường hợp được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% như sau:

1. Thuế suất 0%: áp dụng đối với hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu; hoạt động xây dựng, lắp đặt công trình ở nước ngoài và ở trong khu phi thuế quan; vận tải quốc tế; hàng hoá, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế GTGT khi xuất khẩu, trừ các trường hợp không áp dụng mức thuế suất 0% hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu là hàng hoá, dịch vụ được bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân ở nước ngoài và tiêu dùng ở ngoài Việt Nam; bán, cung ứng cho tổ chức, cá nhân trong khu phi thuế quan; hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của pháp luật...

Trường hợp cung cấp dịch vụ mà hoạt động cung cấp vừa diễn ra tại Việt Nam, vừa diễn ra ở ngoài Việt Nam nhưng hợp đồng dịch vụ được ký kết giữa hai người nộp thuế tại Việt Nam hoặc có cơ sở thường trú tại Việt Nam thì thuế suất 0% chỉ áp dụng đối với phần giá trị dịch vụ thực hiện ở ngoài Việt Nam, trừ trường hợp cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho hàng hóa nhập khẩu được áp dụng thuế suất 0% trên toàn bộ giá trị hợp đồng. Trường hợp, hợp đồng không xác định riêng phần giá trị dịch vụ thực hiện tại Việt Nam thì giá tính thuế được xác định theo tỷ lệ (%) chi phí phát sinh tại Việt Nam trên tổng chi phí.”

Như vậy, đối với trường hợp của anh, là trường hơp cung cấp dịch vụ du lịch được ký kết giữa công ty anh và công ty đối tác ở thành phố Hồ Chí Minh để đưa khách đi tham quan du lịch tại Thái Lan.Vậy thì thuế suất 0% chỉ áp dụng đối với dịch vụ thực hiện ngoài Việt Nam của công ty đối tác. Còn công ty anh vẫn phải kê khai, tính thuế giá trị gia tăng đối với phần doanh thu của mình theo quy định của pháp luật.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ