Không có bên thứ 3 nào làm chứng hay trên hợp đồng ko có con dấu, ... Vậy hợp đồng này có hợp pháp không? và tôi có vi phạm luật thuế VAT không? Trân trọng và cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật thuế của Công ty Luật Minh Khuê.

Thực hiện kí kết hợp đồng không có ai làm chứng và không có dấu có vi phạm luật thuế giá trị gia tăng không ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật dân sự 2005.

Luật doanh nghiệp 2014

Thông tư số 39/2014/TT-BTC quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

2. Nội dung tư vấn.

Căn cứ luật dân sự 2005.

"Điều 518. Hợp đồng dịch vụ  

Hợp đồng dịch vụ là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ."

Theo đó đối với hợp đồng cung ứng dịch vụ pháp luật không có quy định nào bắt buộc về hình thức phải có con dấu và phải có người làm chứng, ngoài ra thì heo Luật Doanh nghiệp 2014 thì con dấu là tài sản của doanh nghiệp và chỉ là một dấu hiệu nhận dạng doanh nghiệp để phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác đồng thời con dấu chỉ có tính xác thực là bên công ty bạn đã giao kết hợp đồng và có nghĩa vụ phải thực hiện hợp đồng này, có ý nghĩa chứng minh bên công ty bạn đã giao kết hợp đồng với khách hàng.

Tuy nhiên, cá nhân thì không có con dấu nên trong hợp đồng không thể có con dấu của cá nhân.

Điều 404 BLDS quy định: "4. Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản."

Điều 405 BLDS cũng quy định về hiệu lực của hợp đồng như sau:

"Điều 405. Hiệu lực của hợp đồng dân sự

Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác."

Hợp đồng này của bạn không vi phạm quy định của pháp luật thuế GTGT.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thuế - Công ty luật MInh Khuê