1. Thuế GTGT của "Giải pháp bảo vệ thương hiệu tích hợp" ?

"Giải pháp bảo vệ thương hiệu tích hợp" là sử dụng phần mềm dựa trên nền tảng mã vạch để truy xuất dãy số seri nhằm phân biệt các nhãn mác khác nhau trên bao bì sản phẩm.

Khoản 21 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC có quy định về hoạt động thuộc đối tượng không chịu thuế bao gồm: Chuyển giao công nghệ theo quy định của Luật chuyển giao công nghệ; chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ; Phần mềm máy tính bao gồm sản phẩm phần mềm và dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật.

Tại công van 5031/TCT-CS ngày 13/12/2018 có hướng dẫn trường hợp công ty sử dụng "giải pháp bảo vệ thương hiệu tích hợp" của tập đoàn để in nhãn đính vào sản phẩm của khách hàng, tức là sử dụng phần mềm dựa trên nền tảng mã vạch để truy xuất dãy số seri nhằm phân biệt các nhãn mác khác nhau trên bao bì sản phẩm nhằm theo dõi, kiểm soát, nhận diện thương hiệu, bảo vệ thương hiệu; vận chuyển, tiếp thị , theo dõi, kiểm soát hàng tồn kho,... cho khách hàng là chủ thương hiệu thì thu nhập cảu tập đoàn từ việc cung cấp "giải pháp bảo vệ thương hệu tích hợp" là thu nhập từ bản quyền phần mềm thuộc đối tượng không chịu thuế gia trị gia tăng.

Như vậy, doanh nghiệp cung cấp "giải pháp bảo vệ thương hiệu tích hợp" với mục đích nêu trên sẽ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

2. Hoạt động chiếu sáng đường phố, ngõ, xóm có chịu thuế giá trị gia tăng không?

Căn cứ điểm b khoản 11 Điều 4 Thông tư 219/2013/TT-BTC thì dịch vụ chiếu sáng công cộng bao gồm chiếu sáng đường phố, ngõ, xóm trong khu dân cư, vườn hoa, công viên.

Tuy nhiên, cần phải làm rõ doanh thu thuộc đối tượng không chịu thuế trong trường hợp này chỉ bao gồm doanh thu thu được từ hoạt động chiếu sáng công cộng, những khoản thu khác vẫn thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, tiền điện mà doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chiếu sáng công cộng phải trả cho nhà cung cấp điện vẫn chịu thuế GTGT là 10%.

3. Thuế giá trị gia tăng của cà rốt tươi nhập khẩu sau đó bán lại trong nước?

- Căn cứ Điều 4 thông tư 219/2013/TT-BTC thì cà rốt tươi chưa qua chế biến khi nhập khẩu về Việt Nam thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.

- Căn cứ quy định tại Khoản 5 Điều 5 Thông tư 219/2013/TT-BTC thì ở khâu bán ra tính thuế như sau:

+ Trường hợp người bán hàng là doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp khấu trừ:

*) Khi bán cà rốt tươi chưa chế biến thành sản phẩm khác cho doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Khi xuất hóa đơn thì dòng thuế suất và tiền thuế không ghi, gạch bỏ.

*) Khi bán cà rốt tươi này cho hộ, cá nhân, tổ chức khác không phải là doanh nghiệp thì chịu thuế GTGT là 5%.

+ Trường hợp người bán là doanh nghiệp tính thuế theo phương pháp trực tiếp, hộ , cá nhân kinh doanh: Thì tính thuế GTGT theo tỷ lệ % trên doanh thu. Tỷ lệ thuế đối với hoạt động phân phối, cung cấp hàng hóa là 1%.

4. Khi nào được khai bổ sung hồ sơ khai thuế GTGT

Căn cứ theo khoản 5 Điều 10 Thông tư 156/2013/TT-BTC thì người nộp thuế được khai bổ sung hồ sơ khai thuế khi phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp có sai sót. Hồ sơ khai bổ sung được nộp vào bất kỳ ngày nào , nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra, thanh tra tại doanh nghiệp.

Nếu cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định xử lý về thuế sau kiểm tra, thanh tra thì người nộp thuế được khai bổ sung, điều chỉnh trong các trường hợp sau:

- Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp còn sai sót nhưng không liên quan đến thời kỳ, phạm vi đã kiểm tra, thanh tra thì người nộp thuế được khai bổ sung, điều chỉnh và phải nộp tiền chậm nộp theo quy định.

- Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp còn sai sót liên quan đến thời kỳ đã kiểm tra, thanh tra nhưng không thuộc phạm vi đã kiểm tra, thanh tra thì người nộp thuế được khai bổ sung, điều chỉnh và phải nộp tiền chậm nộp theo quy định.

- Người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp còn sai sót liên quan đến thời kỳ, phạm vi đã kiểm tra, thanh tra dẫn đến phát sinh tăng số thuế phải nộp, giảm số thuế đã được hoàn, giảm số thuế được khấu trừ, giảm số thuế đã nộp thừa thì người nộp thuế được khai bổ sung, điều chỉnh và bị xử lý theo quy định như đối với trường hợp cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra phát hiện.

Trường hợp cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định xử lý về thuế liên quan đến tăng, giảm số thuế GTGT còn được khấu trừ thì người nộp thuế thực hiện khai điều chỉnh vào hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế nhận được kết luận, quyết định xử lý về thuế theo kết luận, quyết định xử lý về thuế của cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền (người nộp thuế không phải lập hồ sơ khai bổ sung).

Như vậy, hồ sơ khai thuế GTGT bổ sung được khai vào bất kỳ thời điểm nào nhưng phải trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra, thanh tra tại doanh nghiệp. Trường hợp sau khi kiểm tra, thanh tra mà vẫn phát hiện ra có sai sót thì sẽ được kê khai bổ sung nhưng sẽ bị xử lý vi phạm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Quỳnh - Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê