Xin cảm ơn !

Người gửi: Q.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật thuế của công ty Luật Minh Khuê.

     Thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu ?

   Luật sư tư vấn Thuế trực tiếp gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn tới thư mục Hỏi đáp pháp luật của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ pháp luật:

Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008

Nội dung phân tích:
 
Thứ nhất, Căn cứ vào Điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng năm 2008 quy định: Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Bản chất của thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Các nhà sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ là người nộp thuế nhưng người tiêu dùng  mới là người chịu thuế thông qua giá cả hàng hóa dịch vụ.
 
Thứ hai, Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế GTGT bao gồm các yếu tổ chủ quan và yếu tố khách quan sau:  
1. Các yếu tố khách quan. 
a. Đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước 
Bản chất của thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Vì vậy, Thuế GTGT là sự thể chế hóa các chính sách mà Đảng, Nhà nước đề ra; được quy định nhằm phục vụ chính sách phát triển kinh tế và chính sách thuế ở Việt Nam. Xuất phát từ mục đích này mà  việc thực thi pháp luật thuế GTGT chịu ảnh hưởng không nhỏ bởi đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. 
 
Hiện nay, chiến lược  phát  triển  kinh tế-  xã  hội  mà  Đảng  đề  ra  trong  giai  đoạn 2011 – 2020 là: Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. "
 
Muốn thực hiện được chiến lược trên thì Nhà nước ta phải có một chính sách thuế  GTGT hợp lý. Chính sách đó vừa phải đảm bảo nguồn thu cho Nhà nước vừa “vừa sức” với người tiêu dùng nói chung. Hiện nay, quy định hiện nay của Luật thuế GTGT 2008 đã thể hiện khá tốt việc thể chế hóa chiến lược phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước. Bên cạnh ban hành các mức thuế suất hợp lý thì việc quy định 25 nhóm đối tượng không chịu thuế GTGT cũng là một ví dụ thể hiện sự thể chế hóa này: 
- Để phát triển, nâng cao trình độ internet, viễn thông cho người dân: quy định đối tượng không chịu thuế là dịch vụ bưu chính, viễn thông công ích và In-ter-net phổ cập theo chương trình của Chính phủ. (Khoản 10, Điều 5 Luật thuế GTGT 2008). 
- Để thúc đẩy phát triển nông nghiệp: quy định đối tượng không chịu thuế là tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng phục vụ sản xuất nông nghiệp; dịch vụ thu hoạch sản phẩm nông nghiệp. (Khoản 3, Điều 5, Luật thuế GTGT 2008). 
- Thúc  đẩy  việc  sử  dụng  các  phương  tiện  giao  thông,  công  cộng:  Vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, xe điện. (Khoản 16 Điều 5, Luật 
thuế GTGT 2008).v.v.. 
 
b. Thực trạng nền kinh tế
Các nhà khoa học kinh tế cho rằng: thuế GTGT là 1 trong những đặc điểm riêng có của một nền kinh tế phát triển, quản lý theo cơ chế thị trường. Thuế GTGT được tính và thu qua mỗi lần chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ trong quá trình sản xuất lưu thông đến tiêu dùng. Ở đâu, khi nào các hoạt động chuyển giao hàng hoá và cung cấp dịch vụ diễn ra một cách sôi động thì ở đó, khi đó có khả năng thu thuế GTGT lớn và ngược lại. Bởi thuế có nguồn gốc từ giá trị thặng dư của xã hội, nên nền kinh tế phát triển, hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp ổn định, có hiệu quả và thực hiện quản lý theo cơ chế thị trường là điều kiện quan trọng nhất để áp dụng thuế GTGT. 
 
c. Chi phối bởi yêu cầu thu ngân sách Nhà nước. 
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân. Thuế GTGT là một trong những loại thuế giữ vai trò này. Hiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép của quan hệ “mua bán sòng phẳng”,“có vay, có trả”, thuế GTGT phải là công cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, ổn định kinh tế - xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển đất nước lâu dài. Vì vậy, yêu cầu thu ngân sách nhà nước là một yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực thi pháp luật thuế GTGT.
 
d. Hệ thống pháp luật 
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến việc thực thi pháp thuế GTGT là hệ thống pháp luật. Để thực thi pháp luật thuế GTGT đạt hiệu quả cao trên thực tế đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện, hoặc tương đối hoàn thiện, nghĩa là hệ thống pháp luật đó phải đảm bảo tính toàn diện (đầy đủ), tính đồng bộ (không trùng lắp, chồng chéo), tính phù hợp (không cao quá hoặc thấp quá so với trình độ phát triển của KT-XH) và tính kỹ thuật pháp lý cao.
 
2. Yếu tố chủ quan:
2.1. Trình độ quản lý của cơ quan thuế, cán bộ thuế.  
Thuế GTGT là thuế gián thu, đánh trên bình diện rộng, mang bản chất liên hoàn có cơ chế vận hành phức tạp nên đòi hỏi một trình độ quản lý cao ở cán bộ thuế và phương tiện quản lý hiện đại ở cơ quan thuế, phải có hệ thống máy tính nối mạng, đủ khả năng để quản lý, kiểm soát hoạt động của các đối tượng nộp thuế. Bởi, nếu cán bộ thuế không có trình độ tương xứng để quản lý các hành vi chuyển giao thuế GTGT giữa các chủ thể kinh doanh thì khó lòng đảm bảo nguồn thu cho NSNN. Có thể thấy rằng cơ sở hạ tầng, phương tiện vật chất kĩ thuật của quá trình thực thi pháp luật thuế GTGT có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả thực hiện luật này trên thực tế. Nếu các cơ quan thuế được trang bị đầy đủ các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ đắc lực cho quá trình làm việc thì quá trình thu thuế, kê khai thuế, hoàn thuế… được thực hiện một cách nhanh chóng và chính xác. Nếu các phương tiện quá lạc hậu, điều kiện cơ sở vật chất không đáp ứng đầy đủ cho các cán bộ thuế làm việc sẽ hạn chế tính chính xác, ảnh hưởng tới tâm lí của cán bộ thuế. Từ đó dẫn tới hiệu quả làm việc không cao.
 
Trình độ chuyên môn của cán bộ thuế cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi luật thuế GTGT có hiệu quả hay không. Nếu các cán bộ thuế có trình độ chuyên môn tốt, có kinh nghiệm trong quá trình quản lý và thực thi luật thuế GTGT, hiểu chính xác về các quy định của pháp luật từ đó có thể áp dụng đúng, khoa học và đầy đủ trong thực tế. Ngược lại, nếu cán bộ thuế có trình độ chuyên môn không tốt sẽ dẫn tới hiểu sai và áp dụng không đúng các quy định pháp luật trong thực tế, tạo điều kiện cho các đối tượng nộp thuế trốn thuế, lậu thuế. Mặt khác không chỉ trình độ chuyên môn mà phẩm chất, đạo đức của các cán bộ thuế cũng ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình thực thi luật thuế GTGT. Những món lợi về thuế thường có giá trị lớn, nếu cán bộ thuế không có phẩm chất đạo đức tốt, không trung thực, làm việc có trách nhiệm thì rất dễ bị cám dỗ bởi những khoản lợi ích vật chất to lớn, dẫn tới cấu kết với đối tượng nộp thuế để trốn thuế, lậu thuế.
 
2.2. Ý thức chấp hành của người dân:
Sự lợi dụng chính sách của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và thói quen tiêu dùng của người dân. Chính sách thuế giá trị gia tăng chủ yếu bị lợi dụng là hoàn thuế. Các doanh nghiệp thường khai khống hóa đơn bán hàng để làm sai lệch thuế giá tính thuế giá trị gia tăng. Giá ghi trong hóa đơn chứng từ thường thấp hơn rất nhiều so với giá bán thực tế, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng. Ví dụ thường gặp đó là các đại lý bán xe máy. Nhờ vào thủ đoạn này, các doanh nghiệp luôn ở trong tình trạng thua lỗ trên giấy tờ - không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lẫn thuế giá trị gia tăng. Trong khi đó, người tiêu dùng hầu như không quan tâm đến vấn đề này vì họ chỉ cần biết giá thực tế họ mua được là bao nhiêu. Việc làm này của người tiêu dùng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trốn thuế, vừa nhận được một khoản lợi bất chính từ việc hoàn thuế của nhà nước, do giá đầu vào thường được khai cao hơn giá đầu ra. Đối với hàng hóa xuất khẩu hoặc một số hàng hóa được áp dụng mức thuế 5%, các doanh nghiệp có thể lợi dụng sự ưu đãi này trong việc khai khống bản kê mua bán hàng hóa là nông lâm thủy sản chưa qua chế biến của người bán không có hóa đơn để chiếm đoạt tiền khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng; lập hồ sơ khống hàng nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến xuất khẩu qua đường biên giới đất liền để chiếm đoạt tiền hoàn thuế... Việc sử dụng hóa đơn, chứng từ là công cụ để tính toán thuế giá trị gia tăng cũng bị lợi dụng bởi việc mua bán hóa đơn chứng từ giả bởi các “doanh nghiệp ma”. Với những hóa đơn này, giá đầu vào của các doanh nghiệp được đội lên rất lớn. Nhà nước không những không thu được thuế vào ngân sách mà còn phải trích ngân sách để hoàn thuế giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp làm ăn phi pháp. Điều này là một trong những yếu tố làm hạn chế tính cạnh tranh lành mạnh của thị trường, và hạn chế khả năng phát triển của các doanh nghiệp chân chính.
Trên đây là nội dung phân tích của chúng tôi, giúp bạn tham khảo.
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT THUẾ.