Trả lời:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26/ 11/ 2014.

- Nghị định 139/2013/NĐ-CP quy định về lệ phí môn bài có hiệu lực từ 1/1/2017;

- Thông tư 92/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành ngày 30/7/2015;

- Thông tư 166/2013/TT-BTC Quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, Về nội dung thu hồi giấy phép đăng ký kinh doanh:

Theo khoản 1 điều 211 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26/ 11/ 2014.

1. Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong các trường hợp sau đây:

a) Nội dung kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là giả mạo;

b) Doanh nghiệp do những người bị cấm thành lập doanh nghiệp theo khoản 2 Điều 18 của Luật này thành lập;

c) Doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với Cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế;

d) Doanh nghiệp không gửi báo cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 209 của Luật này đến Cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày hết hạn gửi báo cáo hoặc có yêu cầu bằng văn bản;

đ) Trường hợp khác theo quyết định của Tòa án.”

Như vậy, hộ kinh doanh của anh đã không hoạt động từ tháng 7/2004 đến nay. Nếu theo đúng quy định, hộ kinh doanh của anh đã phải bị thu hồi giấy phép kinh doanh nhưng cơ quan có thẩm quyền ở địa phương anh đã không thực hiện thu hồi giấy phép kinh doanh.

Tuy nhiên, việc anh không kinh doanh và không làm thông báo hủy giấy phép kinh doanh mà không có đơn vị nào kiểm tra thì được mặc định hiểu là thời gian đó anh vẫn kinh doanh và như vậy anh phải thực hiện các nghĩa vụ thuế khi kinh doanh.

Thứ hai, một người chỉ được thành lập một hộ kinh doanh cá thể do đó khi anh chưa làm thủ tục hủy giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cũ thì anh không thể mở thêm một hộ kinh doanh khác với ngành nghề mà hiện tại anh có nhu cầu kinh doanh.

- Trường hợp 1: không thay đổi nội dung trên giấy phép đã đăng ký thì anh vẫn có thể tiếp tục sử dụng giấy phép đó.

- Trường hợp 2: Có thay đổi nội dung ( ví dụ: ngành nghề kinh doanh, địa chỉ trụ sở, số vốn, số người lao động,...) thì sẽ làm thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh và gửi lên phòng tài chính- kế hoạch của UBND cấp quận/ huyện.

Thứ ba, xử phạt khi có đăng ký kinh doanh nhưng thực tế không có hoạt động. Theo phân tích ở phần thứ nhất thì nếu hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh nhưng thực tế khi cán bộ xuống kiểm tra nhiều lần không có hoạt động kinh doanh sẽ bị buộc thu hồi giấy phép kinh doanh. Tuy nhiên, trong suốt thời gian đó, cơ sở của anh không bị kiểm tra cũng như không bị ra quyết định thì có thể được hiểu rằng hộ kinh doanh của anh vẫn hoạt động bình thường và thuộc đối tượng không phải nộp thuế môn bài, thuế GTGT, thuế TNCN cụ thể như sau:

- Hộ kinh doanh cá thể được miễn lệ phí môn bài theo khoản 1 điều 3 nghị định 139/2013/NĐ-CP quy định về lệ phí môn bài có hiệu lực từ 1/1/2017 quy định miễn lệ phí môn bài với đối tượng:

 “1. Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh có doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống.

- Hộ kinh doanh được miễn thuế GTGT và thuế TNCN theo khoản 2 điều 1 thông tư 92/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành ngày 30/7/2015 quy định người nộp thuế GTGT như sau:

“2. Người nộp thuế nêu tại khoản 1 Điều này không bao gồm cá nhân kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống.”

Và theo điểm b khoản 2 điều 2 thông tư 92/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành ngày 30/7/2015 quy định:

“b) Đối với cá nhân nộp thuế khoán thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân của năm.”

Do đó, từ những phân tích trên cùng nội dung mà anh đưa ra ở phần hỏi thì có thể suy ra rằng cơ quan thuế tại địa phương anh đang đánh giá hộ kinh doanh của anh có thu nhập dưới 100 triệu/ năm nên không cần phải nộp thuế trong năm phát sinh đó nên trong suốt thời gian vừa rồi hộ kinh doanh của anh không phải nộp thuế.

Mặc khác, hộ kinh doanh của anh không có mã số thuế, không sử dụng hóa đơn nên theo điểm b khoản 1 điều 6 thông tư 92/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành ngày 30/7/2015 quy định về nguyên tắc khai thuế:

“ Cá nhân nộp thuế khoán khai thuế khoán một năm một lần tại Chi cục Thuế nơi cá nhân có địa điểm kinh doanh và không phải quyết toán thuế.”

Thêm vào đó, theo điểm b khoản 4 điều 6 thông tư 92/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành ngày 30/7/2015 quy định:

“b) Cá nhân nộp thuế khoán tự xác định doanh thu tính thuế khoán trong năm để làm cơ sở xác định số thuế phải nộp trên tờ khai mẫu số 01/CNKD ban hành kèm theo Thông tư này. Trường hợp cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu khoán, không nộp hồ sơ khai thuế hoặc doanh thu tính thuế khoán xác định không phù hợp với thực tế kinh doanh thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.”

Như vậy, phân tích trong trường hợp của hộ kinh doanh của anh thì nếu theo đúng quy định hộ kinh doanh của anh mà được mặc định là kinh doanh bình thường thì mỗi năm sẽ đều phải nộp tờ khai thuế, và mức thuế là 0 đồng. Và nếu anh không làm tờ khai thuế thì sẽ phải đóng phạt do chậm nộp tờ khai thuế theo quy định tại điểm điểm c khoản 6 điều 9 thông tư 166/2013/TT-BTC

“6. Phạt tiền 3.500.000 đồng, nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt tối thiểu không thấp hơn 2.000.000 đồng hoặc có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt tối đa không quá 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

c) Không nộp hồ sơ khai thuế nhưng không phát sinh số thuế phải nộp (trừ trường hợp pháp luật có quy định không phải nộp hồ sơ khai thuế).”

Nhưng theo khoản 2 điều 6 thông tư 92/2015/TT-BTC quy định:

“Từ ngày 20 tháng 11 đến ngày 05 tháng 12 của hằng năm, cơ quan thuế phát Tờ khai thuế năm sau cho tất cả các cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán.”

Như trên thực tế, hộ kinh doanh của anh cũng không nhận được Tờ khai thuế do cơ quan thuế phát để khai thuế. Mà thực tế nhiều cơ quan thuế đánh giá hộ kinh doanh có doanh thu thấp thì sẽ khai luôn hộ cho hộ kinh doanh thì anh sẽ không phải nộp phạt tiền thuế chậm nộp hồ sơ khai thuế.

Cuối cùng, Trường hợp của anh đưa ra thì tùy vào nhu cầu kinh doanh của hộ kinh doanh để làm thủ tục thay đổi ngành nghề kinh doanh trên giấy phép đăng ký kinh doanh hoặc là tiếp tục sử dụng. Còn về thuế mà anh nộp phạt thì theo như phân tích trên khả năng cao là anh không phải nộp phạt còn cơ quan thuế yêu cầu nộp phạt thì họ cũng sai do hàng năm không phát tờ khai thuế năm sau cho anh và trong quá trình anh không nộp hồ sơ khai thuế thì anh sẽ phải nhận được thông báo nộp phạt rồi chứ không phải đợi đến bây giờ.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Thuế hộ kinh doanh cá thể ? Không kinh doanh không hủy giấy phép ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Chuyên viên- Vũ Thị Thúy

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế- Công ty luật Minh Khuê