Mong luật sư tư vấn cho tôi vấn đề trên, Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: Anh Y.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật thuế công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào anh! cảm ơn anh đã gửi câu hỏi tới công ty luật Minh Khuê, dựa trên những thông tin anh cung cấp tôi xin tư vấn cho anh như sau:

Cơ sở pháp lý:

Thông tư số 111/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân.

Nội dung phân tích:

Việc xác định cá nhân nước ngoài là cá nhân không cư trú cần phải dựa vào căn cứ sau đây.

- Người lao động là người nước ngoài có mặt tại Việt Nam là sự hiện diện của cá nhân đó trên lãnh thổ Việt Nam dưới 183 ngày tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam.

- Người lao động là người nước ngoài không có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, không có nơi đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc không thuê nhà tại Việt Nam.

Cá nhân nước ngoài nếu được xác định được các yêu tố nêu trên thì được coi là cá nhân không cư trú và Kỳ tính thuế đối với cá nhân không cư trú được tính theo từng lần phát sinh thu nhập.  

Cá nhân nước ngoài có thu nhập từ tiền hoa hồng môi giới có hợp đồng với các tổ chức kinh tế tại Việt Nam được xác định căn cứ là thu nhập từ tiền lương tiền công đối với cá nhân không cư trú. Căn cứ để tính được số thuế phải nộp được quy định tại Điều 18 thông tư 111/2013/TT-BTC.

" Điều 18. Đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công

1. Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công nhân (×) với thuế suất 20%.

2. Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định như đối với thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 8 Thông tư này.

Việc xác định thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công tại Việt Nam trong trường hợp cá nhân không cư trú làm việc đồng thời ở Việt Nam và nước ngoài nhưng không tách riêng được phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam  thực hiện theo công thức sau:

a) Đối với trường hợp cá nhân người nước ngoài không hiện diện tại Việt Nam:

Tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam

=

Số ngày làm việc cho công việc tại Việt Nam

x

Thu nhập từ tiền lương, tiền công toàn cầu (trước thuế)

+

Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam

Tổng số ngày làm việc trong năm

Trong đó: Tổng số ngày làm việc trong năm được tính theo chế độ quy định tại Bộ Luật Lao động của Việt Nam.

b) Đối với các trường hợp cá nhân người nước ngoài hiện diện tại Việt Nam:

Tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam

=

Số ngày có mặt ở Việt Nam

x

Thu nhập từ tiền lương, tiền công toàn cầu (trước thuế)

+

Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam

365 ngày

Thu nhập chịu thuế khác (trước thuế) phát sinh tại Việt Nam tại điểm a, b nêu trên là các khoản lợi ích khác bằng tiền hoặc không bằng tiền mà người lao động được hưởng ngoài tiền lương, tiền công do người sử dụng lao động trả hoặc trả hộ cho người lao động."

Trong trường hợp này cá nhân môi giới cho công ty anh có hợp đồng ký kết rõ ràng vì thế có căn cứ để xác định chính xác khoản thu nhập của cá nhân tại Việt Nam vì thế công thức để tính thuế thu nhập cá nhân phải nộp như sau:

Số thuế phải nộp = Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công * Thuế suất 20%.

Trên đây là những tư vấn của Luật sư về vấn đề mà anh quan tâm, cảm ơn anh đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

Bộ phận pháp luật thuế