1. Công ty hiện đã hoàn thành xong các hạng mục xây dựng và tiến hành làm báo cáo tăng tài sản gửi cơ quan thuế. Theo quy định, tài sản cố định (TSCĐ) phải có giá trị trên 30tr, có một số hạng mục như nhà bảo vệ, nhà ăn có giá trị thấp hơn 30 triệu. Vậy nếu không được cho vào danh sách TSCĐ thì các hạng mục này kế toán công ty sẽ cần phải xử lí như thế nào? Và có cách nào để có thể đưa các hạng mục này vào thành TSCĐ để trích khấu hao được không ạ ?

2. Hiện tại ở công ty có một số hạng mục xây dựng không có trong quy hoạch xây dựng mà do công ty xây dựng thêm nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của công ty (ví dụ như xây thêm nhà vệ sinh cho công nhân,...). Vậy những hạng mục xây thêm này có được cho vào danh sách báo tăng TSCĐ với cơ quan thuế và tiến hành trích khấu hao không ạ? Tôi rất mong sẽ sớm nhận được sự giải đáp của Quý công ty.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Người gửi: L.T.M.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật thuế của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn quy định về kế toán và tính khấu hao tài sản cố định của doanh nghiệp ?

Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin giải đáp như sau:

I. Căn cứ pháp lý:

Thông tư sô 45/ 2013/ TT-BTC Hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định.

Quyết định 1173/2013/ QĐ-BTC về việc đính chính Thông tư số 45/2013/ TT-BTC hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định do Trương Bộ tài chính ban hành 

II. Nội dung phân tích:

1. Theo quy định tại Điều 3 thông tư 45/2013/TT-BTC quy định về Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định:

"1. Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:

a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

b) Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;

c) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập.

Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một TSCĐ hữu hình.

Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình.

2. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình:

Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình.

Những khoản chi phí không đồng thời thoả mãn cả ba tiêu chuẩn nêu tại khoản 1 Điều 3 Thông tư này thì được hạch toán trực tiếp hoặc được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.

Riêng các chi phí phát sinh trong giai đoạn triển khai được ghi nhận là TSCĐ vô hình tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp nếu thỏa mãn đồng thời bảy điều kiện sau:

a) Tính khả thi về mặt kỹ thuật đảm bảo cho việc hoàn thành và đưa tài sản vô hình vào sử dụng theo dự tính hoặc để bán;

b) Doanh nghiệp dự định hoàn thành tài sản vô hình để sử dụng hoặc để bán;

c) Doanh nghiệp có khả năng sử dụng hoặc bán tài sản vô hình đó;

d) Tài sản vô hình đó phải tạo ra được lợi ích kinh tế trong tương lai;

đ) Có đầy đủ các nguồn lực về kỹ thuật, tài chính và các nguồn lực khác để hoàn tất các giai đoạn triển khai, bán hoặc sử dụng tài sản vô hình đó;

e) Có khả năng xác định một cách chắc chắn toàn bộ chi phí trong giai đoạn triển khai để tạo ra tài sản vô hình đó;

g) Ước tính có đủ tiêu chuẩn về thời gian sử dụng và giá trị theo quy định cho tài sản cố định vô hình.

3. Chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí quảng cáo phát sinh trước khi thành lập doanh nghiệp, chi phí cho giai đoạn nghiên cứu, chi phí chuyển dịch địa điểm, chi phí mua để có và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ, nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh không phải là tài sản cố định vô hình mà được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tối đa không quá 3 năm theo quy định của Luật thuế TNDN.

4. Đối với các công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty nhà nước theo quy định tại các Nghị định của Chính phủ đã ban hành trước Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, có giá trị lợi thế kinh doanh được tính vào giá trị doanh nghiệp khi xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá theo phương pháp tài sản và được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo qui định thì thực hiện phân bổ giá trị lợi thế kinh doanh theo quy định tại Thông tư số 138/2012/TT-BTC ngày 20/8/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn phân bổ giá trị lợi thế kinh doanh đối với công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty nhà nước.

Như vậy theo quy định này thì một số hạng mục như bạn nói (nhà bảo vệ, nhà ăn,...) dưới 30 triệu sẽ không phải là tài sản cố định.

Căn cứ theo quy định tại khoản 11 Điều 9 về nguyên tắc trích khấu hao TSCĐ cũng thông tư này: "Đối với các tài sản cố định doanh nghiệp đang theo dõi, quản lý và trích khấu hao theo Thông tư số 203/2009/TT-BTC nay không đủ tiêu chuẩn về nguyên giá tài sản cố định theo quy định tại Điều 2 của Thông tư này thì giá trị còn lại của các tài sản này được phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thời gian phân bổ không quá 3 năm kể từ ngày có hiệu lực thi hành của Thông tư này".

Theo quy định cũ những hạng mục mà bạn nói vẫn được coi là tài sản cố định nhưng theo quy định mới thì sẽ không còn là tài sản cố định nữa, và theo quy định tại thông tư này thì giá trị những hạng mục đó sẽ được phân bổ vào chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với thời gian phải căn cứ vào khung thời gian trích khấu hao tài sản cố định quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư này (Điều 10 khoản 1 Thông tư này).

2. Theo quy định tại Điều 6 Thông tư 45/2013/TT-BTC quy định về việc phân loại tài sản cố định:

a) Đối với tài sản cố định hữu hình, doanh nghiệp phân loại như sau:

Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: là tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng sân bay, cầu tầu, cầu cảng, ụ triền đà.

Như vậy, hiện tại ở công ty bạn có một số hạng mục xây dựng không có trong quy hoạch xây dựng mà do công ty xây dựng thêm nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của công ty (ví dụ như xây thêm nhà vệ sinh cho công nhân,...), những hạng mục xây thêm này nếu đáp ứng được tiêu chuẩn là tài sản cố định thì sẽ được cho vào danh sách báo tăng TSCĐ với cơ quan thuế để tiến hành trích khấu hao.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật qua Emailhoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật thuế.