>> Luật sư tư vấn luật thuế qua điện thoại gọi:  1900 6162

Tư vấn luật thuế thu nhập cá nhân?

Tư vấn luật thuế thu nhập cá nhân - Ảnh minh họa

 

Các trường hợp người phụ thuộc còn lại gồm:

  1. Bà ngoại
  2. Mẹ đẻ
  3. Mẹ vợ
  4. Cháu ruột sinh năm 1994 đang học đại học
  5. Cậu ruột
  6. Ba người cháu đang sống cùng và trực tiếp nuôi dưỡng
  7. Em con dì bị liệt hai chân
  8. Mợ ruột

Những đối tượng này chỉ được xác định là người phụ thuộc để giảm trừ thuế thu nhập cá nhân khi đáp ứng các điều kiện tại điểm đ, khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, bao gồm:

Với người đang trong độ tuổi lao động, điều kiện gồm: bị khuyết tật hoặc không có khả năng lao động và không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.

Với người ngoài độ tuổi lao động, phải không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng trong năm từ tất cả các nguồn thu nhập không vượt quá 1.000.000 đồng.

+ Trong danh sách mà quý khách hàng cung cấp không thể hiện đầy đủ các đối tượng bà ngoại, mẹ đẻ, mẹ vợ là người trong độ tuổi lao động hay ngoài độ tuổi lao động hay không, do đó Luật Minh Khuê không thể xác định giúp bạn những người này có thuộc đối tượng phụ thuộc được miễn thuế thu nhập cá nhân cho người nộp thuế hay không.

+ Đối với cháu ruột Nguyễn Thị Thắm sinh năm 1994 đang học đại học. Cháu ruột đang trong độ tuổi lao động, để được giảm trừ gia cảnh trong trường hợp này cần phải là người không có khả năng lao động và không có thu nhập hoặc có thu nhập bình quân tháng không quá 1.000.000 đồng. Trường hợp là sinh viên đang học đại học chỉ được coi là trường hợp được giảm trừ khi người này là con của người nộp thuế. Do đó, cháu ruột này dù có giấy xác nhận sống phụ thuộc vào người nộp thuế nhưng không có giấy chứng minh không có khả năng lao động hoặc bị khuyết tật thì không phải là đối tượng giảm trừ gia cảnh.

+Đối với cậu ruột sinh năm 1954. Tính đến thời điểm năm 2014 thì người cậu ruột này mới 60 tuổi, là tuổi ngoài khả năng lao động. Về thời gian trước đó, khi người lao động kê khai giảm trừ gia cảnh vẫn đang trong độ tuổi lao động, cho nên, cũng cần thiết phải có các giấy tờ chứng minh không có khả năng lao động, trường hợp nếu không có các giấy tờ này vẫn không được xác định là người phụ thuộc theo tiết g.4.2 điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC.

+Đối với ba người cháu đang sống cùng và trực tiếp nuôi dưỡng. Với cháu Bùi Khương Duy sinh năm 1994 cũng tương tự như người cháu ruột Nguyễn Thị Thắm đang học đại học, cần thiết phải có các giấy tờ chứng minh không còn khả năng lao động. Với cháu Bùi Nhật Linh (2006) và Nguyễn Thị Thảo (1994), do chưa đến tuổi có khả năng lao động (dưới 15 tuổi) nên theo quy định tại tiết g.4.2 điểm g khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC chỉ cần Bản tự khai của người nộp thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nộp thuế cư trú về việc người phụ thuộc đang sống cùng như mẫu 21a/XH-TNCN.

+Đối với Em con dì bị liệt hai chân. Trong trường hợp này với giấy xác nhận người tàn tật không có khả năng lao động và bản tự kê khai của người nộp thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người phụ thuộc đang cư trú về việc người phụ thuộc hiện đang cư trú tại địa phương và không có ai nuôi dưỡng (trường hợp không sống cùng). Trường hợp 2 người con dì bị liệt hai chân theo như danh sách quý khách hàng cung cấp thuộc diện người phụ thuộc để giảm trừ thuế thu nhập cá nhân.

+Mợ ruột. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/TT-BTC liệt kê những người phụ thuộc để giảm trừ thuế thu nhập cá nhân cho người nộp thuế không bao gồm mợ ruột, do đó, trường hợp này không thể là đối tượng người phụ thuộc để có thể giảm trừ thuế thu nhập cá nhân.

Về việc bên bạn tiến hành tạm giữ một số tiền của người lao động để trả cho cơ quan thuế thì không cần thiết. Trước hết, theo Điều 2 Luật thuế thu nhập cá nhân, đối tượng nộp thuế ở đây là người có thu nhập chịu thuế. Việc hoàn trả thuế với cơ quan thuế trong trường hợp khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp này phải do người có thu nhập chịu thuế có hành vi này tiến hành. Phía công ty bạn không phải hoàn trả số thuế này. Tuy nhiên, khi tiến hành xử phạt vi phạm hành chính trong trường hợp này, bên công ty bạn là tổ chức, cá nhân có liên quan đến hành vi khai sai thuế dẫn đến thiếu số thuế phải nộp, theo quy định tại Điều 15 Thông tư 116/2013/TT_BTC. Nếu như bên công ty bạn giữ một số tiền của người lao động thì công ty bạn vẫn phải nộp phạt vi phạm hành chính theo quy định trên.

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thuế - Công ty luật Minh Khuê  

----------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LÝ LIÊN QUAN: