Trong khi hiện tại tôi vẫn đóng thuế đầy đủ theo nghĩa vụ ở công ty hiện tại. Khi tìm hiểu mới biết được công ty trước đó khi tôi làm được gần 3 tháng rồi bỏ việc từ thời điểm tháng 11-2010 vẫn duy trì việc trả lương cho tôi mà tôi không hề biết và cũng không hề được nhận một đồng nào. Vậy nay khi bên thuế bắt tôi phải đóng số tiền 20 triệu này tôi cũng băn khoăn không biết làm thế nào cho hợp lý.

Mong luật sư chi cho tôi một cách làm hợp lý để giải quyết trường hợp này ạ. Xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ bộ phận tư vấn luật thuế của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về việc đóng thuế thu nhập cá nhân ?

Luật sư tư vấn Luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê chúng tôi. Với những thông tin bạn cung cấp, chúng tôi tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ pháp lý:

Nghị định 83/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quản lý thuế và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế

Nghị định số 119/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Dạy nghề, Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng về khiếu nại, tố cáo

Nội dung tư vấn:

Với câu hỏi của bạn nên chia thành hai vấn đề để giải quyết: Thứ nhất là việc công ty bạn làm trước đó nhưng đã nghỉ mà vẫn trả lương và bạn không nhận được tiền lương; Thứ hai là quyết định nộp thuế của cơ quan thuế.

Vấn đề công ty nơi làm việc cũ trả lương cho bạn mà bạn không nhận được lương: Trường hợp này bạn cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm thì có thể làm đơn khiếu nại lên ban giám đốc công ty yêu cầu họ xem xét lại hành vi của mình.

Điều 5. Trình tự khiếu nại

"1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi của người sử dụng lao động; tổ chức, cá nhân dạy nghề; tổ chức, cá nhân đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Khoản 1 Điều 15, Khoản 1 Điều 16, Khoản 1 Điều 17 Nghị định này.

2. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định tại Khoản 1 Điều này hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 19 Nghị định này mà khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại thực hiện khiếu nại lần hai theo quy định sau đây:

a) Đối với khiếu nại về lao động, người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại quy định tại Khoản 2 Điều 15 Nghị định này;

b) Đối với khiếu nại về dạy nghề, người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại quy định tại Khoản 2 Điều 16 Nghị định này;

c) Đối với khiếu nại về hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, người khiếu nại thực hiện khiếu nại đến người giải quyết khiếu nại quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định này".

3. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc quá thời hạn quy định tại Điều 27 Nghị định này thì người khiếu nại có quyền khiếu nại theo quy định của Luật Khiếu nại và văn bản liên quan hoặc khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 10 Nghị định này".

Theo quy định của Nghị định 119/2014/NĐ-CP thì bạn được quyền khiếu nại hai lần. Khi phát hiện quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm thì bạn làm đơn khiếu nại lần đầu tới Ban giám đốc công ty - Người sử dụng lao động có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định, hành vi của mình bị khiếu nại. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại lần đầu bạn tiếp tục làm đơn khiếu nại lần hai tới Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính. Nếu quá 45 ngày mà bạn không nhận được thông báo về việc giải quyết khiếu nại hoặc không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại thì bạn có quyền khởi kiện vụ án tại Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính

Về vấn đề thực hiện quyết định của cơ quan thuế: Trong trường hợp này bạn có thể làm đơn khiếu nại đến cơ quan quản lý thuế đề nghị họ xem xét lại quyết định hành chính của mình "1. Người nộp thuế, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với cơ quan quản lý thuế hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình". ( khoản 1 Điều 51 Nghị định 83/2013/NĐ-CP)

Điều 30. Nộp thuế trong thời gian giải quyết khiếu nại, khởi kiện

"1. Trong thời gian giải quyết khiếu nại, khởi kiện của người nộp thuế về số thuế do cơ quan quản lý thuế tính hoặc ấn định, người nộp thuế vẫn phải nộp đủ số tiền thuế đó và tiền chậm nộp, tiền phạt (nếu có) theo quy định, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tạm đình chỉ thực hiện quyết định tính thuế, quyết định ấn định thuế của cơ quan quản lý thuế.

2. Trường hợp số thuế đã nộp lớn hơn số thuế xác định theo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của Tòa án thì người nộp thuế được bù trừ vào số thuế phải nộp của kỳ tiếp theo của loại thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đó hoặc được hoàn trả số thuế tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa và tiền lãi tính trên số thuế nộp thừa.

a) Thời gian tính trả lãi được tính từ ngày người nộp thuế nộp tiền đến ngày cơ quan quản lý thuế ra quyết định hoàn trả tiền thuế;

b) Lãi suất để tính tiền lãi là lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố và có hiệu lực tại thời điểm cơ quan quản lý thuế ra quyết định hoàn trả tiền thu".

Như vậy, trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, nếu không có quyết định tạm đình chỉ việc nộp thuế của cơ quan quản lý thuế thì bạn vẫn phải nộp đủ số tiền thuế 20 triệu. Nếu có sự chênh lệch giữa số thuế đã nộp với số thuế xác định theo kết quả giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý thuế thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 nghị định này.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi, ý kiến tư vấn này dựa trên những quy định của pháp luật và những thông tin mà quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra sự tư vấn là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Luật lao động.