Công ty tôi bị rơi vào 2 trường hợp:

- Nếu công ty xuất hóa đơn GTGT cho sở TNMT vào năm 2013 và treo nợ thì công ty chúng tôi phải bỏ ra 280 triệu để đóng tiền thuế GTGT. Số tiền này sẽ bị nằm lại đó 2 năm hoặc có thể lên đến 10 năm hoặc có thể công ty không thu hồi được. Nếu công ty chúng tôi có 5 công trình như vậy thì chúng tôi sẽ bị phá sản.

- Nếu công ty xuất hóa đơn tại thời điểm công ty thu được tiền (ở đây là năm 2015) thì cơ quan thuế chủ quản của chúng tôi không đồng ý và Phạt công ty tôi là chậm doanh thu 2 năm.

Công ty tôi phải làm sao để giải quyết trường hợp này. Công ty xuất hóa đơn GTGT vào năm 2015 có được không ? Hay buộc phải xuất vào năm 2013. 

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.M

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật thuế của công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật thuế gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào chị, cảm ơn chị đã gửi thắc mắc của mình đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin mà chị cung cấp xin được tư vấn cho chị như sau:

I. Cơ sở pháp lý

1. Luật thương mại 2005;

2. Thông tư 156/2013/TT-BTC Hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ

3. Thông tư 39/2014/TT-BTC Hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

4. Thông tư 26/2015/TT-BTC Hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ

II. Nội dung phân tích

1. Thời điểm xuất hóa đơn

Công ty không được quyền lựa chọn thời điểm xuất hóa đơn mà thời điểm xuất hóa đơn phải tuân theo quy định của pháp luật.

Căn cứ theo điểm a khoản 2 Điều 16 thông tư 39/2014/TT- BTC: Ngày lập hóa đơn đối với cung ứng dịch vụ là ngày hoàn thành việc cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. Trường hợp tổ chức cung ứng dịch vụ thực hiện thu tiền trước hoặc trong khi cung ứng dịch vụ thì ngày lập hóa đơn là ngày thu tiền”.

Như vậy, đến cuối năm 2013 doanh nghiệp đã hoàn thành và bàn giao đầy đủ tài liệu, doanh nghiệp phải xuất hóa đơn cho TNMT, TNMT có trách nhiệm thanh toán theo đúng như thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu trong hợp đồng không thỏa thuận cụ thể thời hạn thanh toán thì thời hạn thanh toán xác định theo Điều 87 Luật thương mại 2005: “Trường hợp không có thỏa thuận và giữa các bên không có bất kỳ thói quen nào về việc thanh toán thì thời hạn thanh toán là thời điểm việc cung ứng dịch vụ được hoàn thành”.

2. Thời điểm khai thuế, nộp thuế và tiền chậm nộp tiền thuế

Doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai thuế GTGT, thuế TNDN vào kỳ phát sinh doanh thu và phát sinh số thuế phải nộp theo đúng quy định của pháp luật quản lý thuế và nộp thuế đúng thời hạn. Trường hợp không kê khai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp thì doanh nghiệp có trách nhiệm kê khai bổ sung và nộp toàn bộ số tiền thuế thiếu, cộng với số tiền chậm nộp theo quy định tại Điều 34 thông tư 156/2013/TT-BTC.

Thông tư 26/2015/TT-BTC có quy định bổ sung thêm trường hợp không phải chịu tiền thuế chậm nộp:

Khoản 10 Điều 2 thông tư 26/2015/TT-BTC: Bổ sung Điều 34a như sau:

Khoản 1: Người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán (sau đây gọi chung là người nộp thuế) nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế.

Trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán một phần từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, phần còn lại từ nguồn ngoài ngân sách, nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán nên không nộp thuế kịp thời dẫn đến nợ thuế thì người nộp thuế không phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế tương ứng với phần được thanh toán từ ngân sách nhà nước.

Đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước là đơn vị mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước được giao dự toán chi ngân sách nhà nước theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Như vậy, TNMT Hà Nội chậm thanh toán đến năm 2015 dẫn đến công ty chậm nộp thuế GTGT, TNDN 2 năm thì công ty không phải đóng tiền thuế chậm nộp cho 2 năm này. Tuy nhiên, công ty vẫn phải có trách nhiệm kê khai thuế theo đúng quy định của pháp luật quản lý thuế (năm 2013).

Khoản 2: Phạm vi số tiền thuế và thời gian không tính tiền chậm nộp tiền thuế đối với trường hợp người nộp thuế cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán

a) Không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế còn nợ, số tiền thuế nợ này không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước chưa thanh toán cho người nộp thuế.

Trường hợp người nộp thuế nợ thuế của nhiều kỳ kê khai thuế thì tổng số thuế nợ của các kỳ kê khai không vượt quá số tiền ngân sách nhà nước chưa thanh toán.

b) Thời gian không tính chậm nộp tiền thuế được tính từ ngày người nộp thuế phải nộp thuế đến ngày đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán cho người nộp thuế và không vượt quá thời gian ngân sách nhà nước chưa thanh toán cho người nộp thuế”.

Như vậy có hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất: Thời hạn thanh toán đến trước thời hạn nộp thuế, doanh nghiệp không phải nộp tiền thuế chậm nộp đến ngày được TNMT thanh toán.

Trường hợp thứ hai: Thời hạn thanh toán đến trước thời hạn nộp thuế, doanh nghiệp không phải nộp tiền chậm nộp từ ngày hết hạn thanh toán đến khi được TNMT thanh toán và phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế từ thời điểm hết thời hạn nộp thuế đến thời điểm TNMTcó trách nhiệm thanh toán.

3. Trình tự, thủ tục không tính tiền chậm nộp

Khoản 3 Điều 34a thông tư 156/2013/TT-BTC, được bổ sung bởi thông tư 26/2015/TT-BTC:

a) Người nộp thuế thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 1 Điều này cung cấp cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp văn bản xác nhận của đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước về việc người nộp thuế chưa được thanh toán theo mẫu số 01/TCN ban hành kèm theo Thông tư này.

b) Cơ quan thuế ban hành quyết định về việc kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế, thời gian kiểm tra tối đa là 03 ngày làm việc. Sau khi kiểm tra, cơ quan thuế xác định:

- Nếu người nộp thuế thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp thì cơ quan thuế ban hành thông báo về việc người nộp thuế không phải nộp tiền chậm nộp thuế.

- Nếu người nộp thuế thuộc trường hợp phải nộp tiền chậm nộp thì cơ quan thuế ban hành thông báo về việc người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp thuế (thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp) và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật.

c) Sau khi được ngân sách nhà nước thanh toán, người nộp thuế thực hiện nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước và thông báo cho cơ quan thuế theo mẫu số 02/TCN ban hành kèm theo Thông tư này để cơ quan thuế có cơ sở tính lại các khoản tiền thuế nợ, tiền chậm nộp và xác định chính xác số ngày không phải nộp tiền chậm nộp của người nộp thuế.

Như vậy, Công ty cần thực hiện các bước sau:

-Gửi mẫu 01/TCN (ban hành kèm Theo thông tư 26/2015/TT-BTC) có xác nhận của TNMT lên cơ quan thuế quản lý trực tiếp.

-Ngay sau khi nhận được khoản thanh toán, công ty cần gửi mẫu số 02/TCN (ban hành kèm Theo thông tư 26/2015/TT-BTC), đồng thời nộp bổ sung thuế vào NSNN.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của chị, cảm ơn chị đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ