Trả lời:

Chào bạn,cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình mới năm 2014 số 52/2014/QH13

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 số 58/2014/QH13

Luật số 60/2014/QH13 của Quốc hội : LUẬT HỘ TỊCH

Luật Cư trú số 81/2006/QH11 của Quốc hội

Luật cư trú sửa đổi, bổ sung số 36/2013/QH13 của Quốc hội

Nghị định số 05/1999/NĐ-CP của Chính phủ : Về chứng minh nhân dân

2. Luật sư tư vấn:

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

Anh chị cho em hỏi: em với người yêu em là cậu cháu - bố em với ông ngoại của người yêu em là anh em ruột, em và mẹ người yêu em là chị em cô chú bác . Theo em tìm hiểu thì em thuộc đời thứ 3 người yêu em là đời thứ 4 . Theo pháp luật thì vẫn được phép kết hôn đúng không ạ ? Liệu sinh con có bị dị tật không ạ. Mong anh chị giải đáp giúp em ,em xin chân thành cảm ơn công ty ạ. Chúc sức khỏe anh chị .

Khoản 18 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình quy đình như sau:

"18. Những người có họ trong phạm vi ba đời là những người cùng một gốc sinh ra gồm cha mẹ là đời thứ nhất; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha là đời thứ hai; anh, chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì là đời thứ ba."

Như vậy, trong trường hợp này:

- Đời thứ nhất của bạn và bạn gái là ông bạn cũng là cụ của bạn gái bạn.

- Đời thứ hai là bố bạn và ông ngoại bạn gái bạn 

- Đời thứ ba là bạn và bố bạn gái bạn

Như vậy, trong trường hợp này, bạn và bạn gái bạn vẫn thuộc đời thứ ba do đó theo quy định của luật thì bạn và bạn gái bạn không đủ điều kiện kết hôn.

Tôi được đi học theo chương trình học bổng của nhà nước ở nước ngoài trong vòng 2 năm. Trong thời gian này tôi vừa sinh con vừa tham gia học tập để hoàn thành khóa học và khi kết thúc khóa học con tôi được 6 tháng tuổi. Vậy cho tôi hỏi khi tôi về nước tôi có được hưởng chế độ thai sản hay không? Trong thời gian đi học cơ quan vẫn tham gia đóng bảo hiểm đầy đủ cho tôi. Xin chân thành cảm ơn!

Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội quy định:

"Điều 31. Điều kiện hưởng chế độ thai sản
1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Lao động nữ mang thai;
b) Lao động nữ sinh con;
c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;
d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;
e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.
2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.
3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.
4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này." 

Như vậy, nếu bạn đáp ứng điều kiện đóng bảo hiểm xã hội " từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con" hoặc "đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con" thì bạn sẽ được hưởng chế độ thai sản.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

Chào luật sư, Em có một câu hỏi muốn hỏi luật sư ạ. Em quê ở Quảng Ninh, lấy chồng quê ở Tuyên Quang và em chưa chuyển khẩu về nhà chồng ở Tuyên Quang, khẩu của em vẫn ở Quảng Ninh ạ. Hiện tại em và chồng em đang làm việc tại Hà Nội, 2 tháng nữa thì em sinh em bé. Vậy luật sư cho em hỏi bây giờ nếu sinh con ở Hà Nội, thì con em sẽ khai sinh ở đâu và nhập khẩu thế nào ạ. Em có cần phải chuyển khẩu về trên khẩu của nhà chồng em không, và nếu cứ để con theo khẩu mẹ thì sau này có ảnh hưởng hoặc khó khăn gì cho việc nhập khẩu và các giấy tờ của con em sau này không ạ! Mong luật sư trả lời em được rõ ạ. Em cảm ơn! -- Trân trọng,

Điều 13 Luật Hộ tịch quy định như sau:

"Điều 13. Thẩm quyền đăng ký khai sinh
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh."

Như vậy, theo quy định trên thì UBND cấp xã nơi cư trú của bạn hoặc của chồng bạn là nơi thực hiện đăng ký khai sinh.

Điều 13 Luật Cư trú quy định như sau:

"Điều 13. Nơi cư trú của người chưa thành niên

1. Nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha, mẹ; nếu cha, mẹ có nơi cư trú khác nhau thì nơi cư trú của người chưa thành niên là nơi cư trú của cha hoặc mẹ mà người chưa thành niên thường xuyên chung sống.

2. Người chưa thành niên có thể có nơi cư trú khác với nơi cư trú của cha, mẹ nếu được cha, mẹ đồng ý hoặc pháp luật có quy định."

Như vậy, theo quy định của luật thì nơi cư trú của con bạn là nơi cư trú của bạn hoặc chồng bạn.

Xin chào luật sư! Hiện tại con muốn trở về Việt Nam sinh con chồng con là người Trung Quốc ,không biết khi về Việt Nam con cần đem theo giấy tờ gì và bản thỏa thuận công an chổ con ở ky hay phải lãnh sự quán ky ạ?chồng con không về co làm được khai sinh mang quốc tịch Trung Quốc cho con con không?giấy kết hôn và hộ khẩu co cần đem về không,hiện con có đăng ky kết hôn tại Trung Quốc nhưng chưa nhập quốc tịch.Mong luật sư tư vấn dùm con.Chân thành cám ơn luật sư

Điều 16 Luật Quốc tịch quy định như sau: 

"Điều 16. Quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

1. Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là người không quốc tịch hoặc có mẹ là công dân Việt Nam còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.

2. Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Trường hợp trẻ em được sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ không thỏa thuận được việc lựa chọn quốc tịch cho con thì trẻ em đó có quốc tịch Việt Nam."

Điều 36 Luật Hộ tịch quy định như sau:

"Điều 36. Thủ tục đăng ký khai sinh
1. Người đi đăng ký khai sinh nộp giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp cha hoặc mẹ hoặc cả cha và mẹ là người nước ngoài thì phải nộp văn bản thỏa thuận của cha, mẹ về việc chọn quốc tịch cho con.
Trường hợp cha, mẹ chọn quốc tịch nước ngoài cho con thì văn bản thỏa thuận phải có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân.
2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức làm công tác hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; trường hợp trẻ em có quốc tịch nước ngoài thì không ghi nội dung quy định tại điểm c khoản 1 Điều 14 của Luật này.
Công chức làm công tác hộ tịch, người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.
3. Chính phủ quy định thủ tục đăng ký khai sinh đối với các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 35 của Luật này."

Như vậy, văn bản thỏa thuận chọn quốc tịch cho con sẽ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước ngoài mà người đó là công dân xác nhận xác nhận. 

Điều 16 Luật Hộ tịch quy định như sau:

"Điều 16. Thủ tục đăng ký khai sinh
1. Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.
2. Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức tư pháp - hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy Số định danh cá nhân.
Công chức tư pháp - hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.
3. Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em sinh ra do mang thai hộ; việc xác định quê quán của trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ."

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn là người Việt Nam, chồng bạn là người Trung Quốc do đó khi đăng ký khai sinh cho con vợ chồng bạn cần phải chuẩn bị những giấy tờ sau:

- Tờ khai đăng ký khai sinh (theo mẫu)

- Giấy chứng sinh 

>> Xem thêm:  Lo sợ bố mẹ phản đối vì bạn gái đã từng có một đời chồng

- Văn bản thỏa thuận chọn quốc tịch cho con

Ngoài ra, theo quy định của Khoản 2 Điều 9 Luật Hộ tịch thì vợ chồng bạn khi làm thủ tục khai sinh cho con phải mang theo cả giấy tờ chứng minh nhân thân cho cơ quan đăng ký hộ tịch như: chứng minh nhân dân,...

Dạ chuyện là mẹ con sinh ra tại cần thơ huyện cờ đỏ và mẹ con kết hôn và có 2 con 1 trai 1 gái và chuyển đến sinh sống tại nhà chồng cũng ngụ tại Thành Phố Cần Thơ và đã chuyển khẩu đến đây đầy đủ nhưng do lúc đó mẹ con ko suy nghĩ đến chuyện làm chứng minh nhân dân và đã bỏ qua chuyện đó và đến năm 1990 vợ chồng chia tay và bán nhà đi và không xin giấy chuyển khẩu (không trình báo vs chính quyền địa phương) và mẹ con đi lên buôn ma thuột tha hương mỗi chổ 1 2 năm nên ko đăng ký đc tạm trú tạm vắng đến năm 1999 thì mẹ con đi thêm 1 bước nữa và sinh con ra (là hiện tại mẹ con có 3 người con 2 trai và 1 gái ) nhưng do gia đình khó khăn không có gia đình ở cạnh mẹ con sinh con trong hoàn cảnh khó khăn trong bệnh viện tư của 1 bác sĩ (có tên là bác sĩ Hùng) và cũng có cấp giấy chứng sanh cho mẹ con nhưng do sơ sót nên đã mất và thất lạc đi cũng thời điểm đó mẹ con lại tiếp tục đưa con vào sài gòn để mưu sinh và cho đến nay con vẫn ko có giấy tờ gì để tùy thân hết và mẹ con cụng vậy ngoài cái sổ hộ khẩu trước năm 1990 của nhà chồng đã bán thôi đến nay con đã được 17 tuổi chuẩn bị lên tuổi 18 mà con vẫn chưa có được chứng minh nhân giân để đi làm việc sinh sống . nên xin luật sư tư vấn cho con cách làm sao để cho con và mẹ con có đc giấy tờ tùy thân , con xin cảm ơn mong nhận được phản hồi từ chú ....

Khoản 1 Điều 6 Nghị định 05/1999/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 6. Thủ tục cấp Chứng minh nhân dân

1- Công dân quy định tại khoản 1 Điều 3 có nghĩa vụ phải đến cơ quan công an làm thủ tục cấp Chứng minh nhân dân :

a) Cấp Chứng minh nhân dân mới :

Xuất trình hộ khẩu thường trú;

Chụp ảnh;

In vân tay;

Khai các biểu mẫu;

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký kết hôn và bảo lãnh ra nước ngoài khi kết hôn ngoại quốc?

Nộp giấy Chứng minh nhân dân đã cấp theo Quyết định số 143/CP ngày 09 tháng 8 năm 1976 (nếu có)..."

Như vậy, theo quy định pháp luật thì nếu bạn muốn cấp chứng minh thư nhân dân thì bạn phải có sổ hộ khẩu.

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì hiện nay gia đình bạn đang sinh sống tại Sài Gòn do đó nếu muốn đăng ký tạm trú bạn phải đáp ứng điều kiện được quy định tại Khoản 1 Điều 20 Luật Cư trú như sau:

"Điều 20. Điều kiện đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương

Công dân thuộc một trong những trường hợp sau đây thì được đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc trung ương:

1. Có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ một năm trở lên. Trường hợp chỗ ở hợp pháp do thuê, mượn, ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản;..."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Dân sự.

>> Xem thêm:  Không có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có đăng ký kết hôn được không ?

>> Xem thêm:  Lấy chồng là công an phải thẩm tra lý lịch ba đời có phải không?