1. Mức phạt vi phạm về hành lang an toàn giao thông ?

Xin chào luật sư công ty luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi muốn được luật sư tư vấn như sau: Đặt vật liệu xây dựng trên đường dân sinh cạnh đường sắt có vi phạm quy định về hành lang an toàn giao thông đường sắt không?
Xin cảm ơn luật sư đã tư vấn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật giao thông trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Dựa trên các quy định của pháp luật hiện hành, chưa có bất kỳ quy định cụ thể nào định nghĩa rõ khái niệm cụm từ "đường dân sinh", theo đó, bạn có thể tham khảo Quyết định 4927/QĐ-BGTVT năm 2014 hướng dẫn lựa chọn quy mô kỹ thuật đường giao thông nông thôn phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải ban hành, trong nội dung quyết định này có quy định về chức năng của đường dân sinh:

"Đường dân sinh: chủ yếu phục vụ sự đi lại của người dân giữa các cụm dân cư, các hộ gia đình và từ nhà đến nương rẫy, ruộng đồng, cơ sở sản xuất, chăn nuôi nhỏ lẻ... Phương tiện giao thông trên các tuyến đường dân sinh chủ yếu là xe đạp, xe mô tô hai bánh, xe kéo tay, ngựa thồ."

Căn cứ theo khoản 2 Điều 3 Nghị định 56/2018/NĐ-CP quy định về quản lý, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt quy định như sau:

"2. Hành lang an toàn giao thông đường sắt là phạm vi được xác định bởi khoảng không, vùng đất, vùng nước xung quanh liền kề với phạm vi bảo vệ công trình đường sắt để bảo đảm an toàn giao thông đường sắt; phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn khi cần thiết và bảo đảm tầm nhìn cho người tham gia giao thông."

Cũng theo quy định tại Điều 16 Nghị định 56/2018/NĐ-CP về hành lang an toàn giao thông đường sắt:

"1. Chiều rộng hành lang an toàn giao thông đường sắt tính từ mép ngoài phạm vi bảo vệ đường sắt trở ra mỗi bên được xác định như sau:

a) Đường sắt tốc độ cao: Trong khu vực đô thị là 05 mét, ngoài khu vực đô thị là 15 mét. Đối với đường sắt tốc độ cao, phải xây dựng rào cách ly hành lang an toàn giao thông đường sắt để tránh mọi hành vi xâm nhập trái phép;

b) Đường sắt đô thị đi trên mặt đất và đường sắt còn lại là 03 mét.

2. Chiều cao hành lang an toàn giao thông đường sắt được tính từ mặt đất trở lên theo phương thẳng đứng đến giới hạn phạm vi bảo vệ trên không của đường sắt theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này."

Dẫn chiếu khoản 2 Điều 9 Nghị định 56/2018/NĐ-CP quy định về phạm vi bảo vệ đường sắt:

"2. Phạm vi bảo vệ hai bên đường sắt theo phương ngang đối với nền đường không đào, không đắp tính từ mép ngoài của ray ngoài cùng trở ra được xác định như sau:

a) Đối với đường sắt tốc độ cao là 7,5 mét;

b) Đối với đường sắt đô thị là 5,4 mét;

c) Đối với đường sắt còn lại là 5,6 mét.

3. Phạm vi bảo vệ hai bên đường sắt theo phương ngang đối với nền đường đào, nền đường đắp được xác định như sau:

a) 05 mét tính từ chân nền đường đắp hoặc mép đỉnh nền đường đào;

b) 03 mét tính từ mép ngoài rãnh dọc hay mép ngoài rãnh đỉnh của nền đường hoặc mép ngoài của công trình phòng hộ, gia cố đối với nền đường có rãnh dọc hay rãnh đỉnh, có công trình phòng hộ, gia cố của nền đường."

Như vậy, trong trường hợp này của bạn, do thông tin bạn cung cấp chưa đầy đủ, chưa có cơ sở xác nhận đường dân sinh mà bạn nhắc tới là như thế nào và ở vị trí nào? Do đó, việc để vật liệu xây dựng trên đường dân sinh cạnh đường sắt có vi phạm quy định về hành lang an toàn đường sắt hay không? Chúng tôi tư vấn tùy từng trường hợp sau:

Trường hợp 1: Đường dân sinh trong vụ việc của bạn nằm trong hành lang an toàn đường sắt

Tức là, đường dân sinh mà bạn để vật liệu xây dựng có vị trí nằm trong phạm vi bảo vệ hai bên đường sắt hoặc nằm trong chiều rộng của hành lang an toàn đường sắt được xác định cụ thể theo Điều 9 và Điều 16 Nghị định 56/2018/NĐ-CP nêu trên tương ứng với từng loại đường sắt khác nhau (đường sắt tốc độ cao, đường sắt trong đô thị, đường sắt ngoài đô thị) thì hành vi này của bạn là vi phạm quy định về an toàn giao thông đường sắt, theo đó, hành vi của bạn sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 51 Nghị định 46/2016/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt, cụ thể như sau:

"3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với tổ chức thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Để phương tiện, thiết bị, vật liệu, hàng hóa, chất phế thải hoặc các vật phẩm khác trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt;"

Ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt nêu trên, bạn còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả là buộc đưa phương tiện, thiết bị, vật liệu, hàng hóa, chất phế thải, các vật phẩm khác (để trái phép) ra khỏi phạm vi bảo vệ công trình đường sắt, hành lang an toàn giao thông đường sắt.

Trường hợp 2: Đường dân sinh trong vụ việc của bạn không nằm trong hành lang an toàn đường sắt

Cụ thể, trong trường hợp này, đường dân sinh của bạn nằm ngoài phạm vi bảo vệ hai bên đường sắt, đương nhiên, cũng nằm ngoài chiều rộng của hành lang an toàn đường sắt theo quy định tại Điều 9 và Điều 16 Nghị định 56/2018/NĐ-CP thì việc bạn để vật liệu xây dựng trên đường dân sinh cạnh đường sắt là không vi phạm quy định về hành lang an toàn đường sắt.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn, mọi vướng mắc phát sinh, vui lòng liên hệ qua tổng đài 1900.6162 để được tư vấn và hỗ trợ chi tiết và cụ thể. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Gây ra tai nạn giao thông trong năm 2020 thì phải bồi thường những gì ?

2. Uống rượu gây tai nạn giao thông sẽ bị phạt thế nào ?

Thưa Luật sư, hành vi lái xe ô tô mà trong máu có nồng cồn vượt quá mức cho phép khi gây tai nạn sẽ bị phạt như thế nào? Lúc nào sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phạt tù bao lâu ?
Xin Luật sư tư vấn, xin cảm ơn Luật sư.

Luật sư tư vấn:

Hành vi điều khiển xe ô tô mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định là hành vi phạm pháp Luật.

1. Vi phạm Luật giao thông đường bộ:

Điều 8, Luật giao thông đường bộ 2008 quy định khi điều khiển xe ô tô mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định là các hành vi cấm, cụ thể như sau:
"Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm...
8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.
Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở. ..."

2. Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Hành vi điều khiển xe ô tô mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nên khi gây tai nạn thuộc một trong các trường hợp sau theo quy định của điều 260, Bộ Luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;
c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;
d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;
đ) Làm chết 02 người;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Làm chết 03 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Như vậy: Khi điều khiển xe mà uống rượu, bia gây tai nạn thuộc các trường hợp như sau sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

- Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Khi nào phải phẫu thuật người chết trong vụ tai nạn giao thông ?

3. Vụ tai nạn giao thông tại Long An - Mức xử phạt nào cho tài xế ?

Thưa Luật sư, những ngày qua bản thân tôi thật sự lo lắng cho chính bản thân mình khi tham gia giao thông Vì tại Long An đã xảy ra vụ tai nạn vô cùng nghiêm trọng khi tài xế điều khiển xe Container đã đâm vào những người dừng đèn đỏ cùng chiều. Khung hình phạt nào cho tài xế ?
Mong luật sư tư vấn

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Luật sư tư vấn:

Trong những ngày đầu năm 2019, khi chúng ta đang vô cùng phấn khởi chào đón năm mới 2019, thì tại Long An đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông thảm khốc khiến nhiều người bàng hoàng. Theo thống kê từ các phương tiện truyền thông thì vụ án đã gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho hơn 20 người (trong đó có 3 người chết tại chỗ, 1 người tử vong tại bệnh viện và 18 người khác bị thương).

Tài xế - người điều khiển phương tiện gây ra sự việc trên đã bỏ trốn cùng thời điểm vụ tai nạn vừa diễn ra, tuy nhiên đã tới trình diện cơ quan chức năng vào 22h30 phút cùng ngày (ngày 2/1/2019). Ngay buổi sáng ngày hôm sau - ngày 3/1, thì một nguồn tin từ bệnh viện cho biết tài xế có dương tính với Heroin và trong máu có nồng độ cồn khi được đưa đi xét nghiệm.

Có thể nói, vụ tại nạn xảy ra là một điều vô cùng sợ hãi, đau xót với gia đình, người thân những người gặp nạn và hành vi của người điều khiển phương tiện là nguy hiểm cho xã hội, người này sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình.

Căn cứ theo khoản 7 và 8 điều 8 Luật Giao thông đường bộ 2008 quy định những hành vi bị nghiêm cấm khi điều khiển phương tiện giao thông gồm:

"7. Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.

8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở."

Đầu tiên, theo trích dẫn trên thì việc tham gia giao thông của người người điều khiển phương tiện khi trong cơ thể có chất ma túy và trong máu có nồng độ cồn là hành vi vi phạm quy định của pháp luật. Tùy vào mức độ cụ thể, mà người vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tại đây, vụ tai nạn đã làm cho 04 thiệt mạng và nhiều người khác bị thương, có thể thấy người gây ra tại nạn đã vi phạm quy định về giao thông đường bộ.

Xét dưới góc độ pháp lý, theo quy định của pháp luật Hình sự thì vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông trong khi điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác. Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, nhưng chỉ những người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (gồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng) mới là chủ thể của tội phạm này. Khách thể của tội phạm này là trật tự an toàn giao thông đường bộ.

Về khung hình phạt, khi người vi phạm sử dụng rượu bia và các chất kích thích mạnh khác thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự theo điều 13 và tội phạm này có thể phạt từ 07 năm tới 15 năm tù theo khoản 3 Điều 260 Bộ Luật Hình sự2015, sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

"Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự"

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên."

Ngoài việc phải chịu án phạt tù, người phạm tội còn bị cấm hành nghề từ 01 năm tới 03 năm.

Tuy nhiên, để có thể đưa ra được mức hình phạt cụ thể cho tài xế - người điều khiển phương tiện tham gia giao thông thì cần phải dựa vào nhiều yếu tố, trong đó có những tình tiết tăng nặng hoặc tình tiết giảm nhẹ của người phạm tội và các kết luận cuối cùng từ cơ quan điều tra.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Tư vấn xử lý việc vô tình gây tai nạn giao thông chết người?

4. Gây tai nạn khi điều khiện phương tiện giao thông ?

Thưa luật sư, một người say rượu điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra hậu quả chết người thì sẽ phải chịu trách nhiệm gì ? Người say rượu này có phải bồi thường cho người chết không ? Xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ:

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Vậy, có thể thấy việc một người say rượu mà điều khiển phương tiện giao thông gây tai nạn chết người thì sẽ có thể bị áp dụng khung hình phạt tù có thời hạn từ 3 năm đến 10 năm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202, nhưng nếu hậu quả xảy ra là đặc biệt nghiêm trọng thì sẽ phải chịu mức phạt từ 7 năm đến mười lăm năm...Về việc xác định gây hậu quả nghiệm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thì bạn có thể căn cứ vào quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP :

"4. Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình s ự

4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự :

a. Làm chết một người;

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;... "

Ngoài ra, việc một người được coi là trong tình trạng có sử dụng rượu bia để xử lý theo Điều 260 bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) thì sẽ được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BTP-BQP-VKSNDTC-TANDTC :

"2. Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự được hiểu là một trong những trường hợp sau đây:

a) Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn;

c) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở."

Đồng thời khi đã bị xử lý hình sự thì ngoài việc bị xử phạt theo các khung hình phạt kể trên, người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với những thiệt hại thực tế gây ra theo quy định tại Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 về việc bồi thường do tính mạng bị xâm phạm:

"1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 của Bộ luật này;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tính mạng của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Trân trọng cảm ơn./.

>> Xem thêm:  Tư vấn bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Tư vấn về việc xử lý vi phạm giao thông?

Thưa luật sư, Tôi có một thắc mắc sau: Tôi muốn hỏi lái xe công_ten _nơ đang lưu thông đúng đường thì bất ngờ có xe con vượt xe máy đối đầu với công tennơ ? Vụ va làm một người chết hai người bị thương xe con hư hỏng nặng. Vậy cho tôi hỏi pháp luật sẽ xử lý như thế nào đối với cả hai bên?.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: N.K.H

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, hình sự gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, từ thông tin bạn gửi về cho công ty chúng tôi, tôi xin phép được trả lời bạn như sau:

Trường hợp thứ nhất:

Theo như quy định tại điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy đinh về ''Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ''.

"1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Như vậy theo như lời bạn kể thì xe công- te-nơ của bạn đi đúng phần đường và đi đúng pháp luật thì về vấn đề này bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về giao thông đường bộ.

Thứ hai: Trách nhiệm bồi thường thiết hại

Theo như khoản 1 điều 584 Bộ luật dân sư 2015 quy định như sau:''1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.''.

Tiếp theo căn cứ vào Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định rõ, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây:

1. Phải có thiệt hại xảy ra.

Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.

a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quy định tại Điều 608 BLDS; thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 609 BLDS; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 610 BLDS; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS.

b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm... và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.

Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và các chủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là do danh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm, lòng tin... vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà tổ chức phải chịu.

2. Phải có hành vi trái pháp luật.

Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật.

3. Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.

4. Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại.

a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại này chỉ pháp sinh khi có đầy đủ các yếu tố như tôi đã phân tích ở trên thì bạn mới có trách nhiệm phải bồi thường

Như vậy dựa vào việc phân tích hai trường hợp như trên và lỗi được xác định ở đây là do chiếc xe con khi vượt xe máy không làm chủ được tốc độ đâm vào xe công te nơ của bạn gây tai nạn.Như vậy bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự theo như quy định tại điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 sủa đổi bổ sung năm 2009 và Trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại điều 604 Bộ luật dân sự 2005.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật giao thông - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Người dưới 18 tuổi lái xe gây tai nạn có phải chịu TNHS không?