Chồng tôi có hộ khẩu Hưng Nhượng, Giồng trôm, Bến Tre và là chủ hộ (hộ khẩu có mẹ chồng, chị chồng thứ ba và cháu ngoại con của chị chồng thứ sáu) và không ai xác lập hộ khẩu về, hai vợ chồng mỗi người một nơi.

Hiện tại tôi đang chạy thận nhân tạo do chồng đi làm kiếm tiền nuôi, và hai vợ chồng có giấy kết hôn. Xin hỏi:

1. Nếu sau này tôi chết và để lại ruộng đất toàn bộ cho chồng tôi mà có giấy di chúc hoặc không có giấy di chúc, thì chồng tôi phải làm thủ tục chuyển nhượng và đóng phí tất cả hai phần đất trên là bao nhiêu ? Và có đóng thêm phần thuế thu nhập cá nhân khi nhận được tài sản của vợ không ? (Nếu có là bao nhiêu ? Vì hiện tại hai vợ chồng thuê nhà sống ở tphcm, ở tiền giang tôi có đất ruộng mà không có nhà, ở bến tre a. ấy có hộ khẩu mà có nhà của má chồng để cho a.ấy đứng tên).

2. Phần đất 2400m vuông nếu lúc mua do chồng tôi đứng tên thì lỡ li hôn có phải chia đều cho những người đứng chung hộ khẩu với a ấy không ? Kính mong luật sư tư vấn sớm nhất giúp tôi nếu có thể ạ, tôi chân thành biết ơn luật sư và công ty tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi và mọi người.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến gọi: 1900.6162 

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau: 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Luật thuế thu nhập cá nhân 2007

Luật đất đai năm 2013.

Nội dung tư vấn:

1. Chồng bạn có phải làm thủ tục chuyển nhượng khi nhận thừa kế từ vợ không ?

Trước hết, nếu sau này bạn chết và bạn muốn để lại mảnh đất đó cho chồng mình thì bạn nên lập di chúc để tại thừa kế, bởi di chúc là sự thể hiện ý chí chủ quan của người để lại di chúc nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết (Điều 646 Bộ luật dân sự) đồng thời khi lập di chúc bạn có quyền chỉ định đích danh ai là người có quyền thừa kế mảnh đất này (Di chúc phải được công chứng). Còn nếu bạn để thừa kế theo pháp luật thì rất khó có thể để thừa kế riêng cho chồng bạn mảnh đất đó, bởi theo quy định của pháp luật dân sự thì thừa kế theo pháp luật phải theo thứ tự và hàng thừa kế.

Sau khi để lại di chúc cho chồng bạn mảnh đất đó, chồng bạn không cần làm thủ tục chyển nhượng gì cả, mà việc cần làm của chồng bạn là tiến hành khai nhận di sản thừa kế và đăng ký biến động quyền sử dụng đất. Tức là, chồng bạn cần làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới, đứng tên chồng bạn và nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã, thị trấn (trường hợp nộp hồ sơ tại xã thị trấn thì trong vòng ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường).

+ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thẩm tra hồ sơ, làm trích sao hồ sơ địa chính; gửi số liệu địa chính cho cơ quan thuế để xác định nghĩa vụ tài chính (nếu có); chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp hoặc thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp phải cấp mới giấy chứng nhận; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thông báo cho bên nhận thừa kế quyền sử dụng đất thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật;

+ Sau khi bên nhận thừa kế quyền sử dụng đất thực hiện xong nghĩa vụ tài chính, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất hoặc Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại xã, thị trấn có đất có trách nhiệm trao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thành phần hồ sơ, bao gồm:

+ Di chúc; biên bản phân chia thừa kế; bản án, quyết định giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất của Toà án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật;

+ Đơn đề nghị của người nhận thừa kế đối với trường hợp người nhận thừa kế là người duy nhất.

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất (nếu có) bao gồm:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.

f) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ nêu trên (từ khoản a đến khoản e) mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp.

g) Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành.

Số lượng hồ sơ: 01 (bộ)

- Thời hạn giải quyết: Không quá mười (10) ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ cho tới ngày người sử dụng đất nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thứ hai về việc đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Điều 34 luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

" Điều 34. Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung

1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này."

Như vậy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản chung của hai vợ chồng về nguyên tắc thì phải mang tên hai vợ chồng. Nếu vì một lý do nào đó mà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ mang tên một người thì đó vẫn được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng nếu thỏa mãn quy định sau:

" Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Theo đó nếu được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng mình thì khi ly hôn sẽ được chia đều cho hai vợ chồng mình.

Thứ ba về thuế thu nhập cá nhân

Theo quy định tại điều 4 Luật Thuế thu nhập cá nhân về thu nhập được miễn thuế:

"4. Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau".

Do đó, chồng bạn sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân.

Về lệ phí trước bạ

Thu quy định tại điều 4 Nghị định số: 45/2011/NĐ-CP về các trường hợp không phải nộp lệ phí trước bạ

"10. Nhà, đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng giữa: vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau nay được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu".

Do đó, chồng bạn cũng không phải đóng thuế trước bạ.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật đất đai.