Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi tư vấn đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Căn cứ theo Điều 194 bộ luật hình sự năm 1999, Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 (Xem thêm: Luật hình sự năm 2015) quy định về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy như sau:

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Có tổ chức;

B) Phạm tội nhiều lần;

C) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

D) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;


Đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

E) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

G) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

H) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;
….

Như vậy, theo thông tin mà bạn cung cấp em bạn có hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy với trọng lượng: 0.59 gam do đó em bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 194 bộ luật hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm tù. 

Tuy nhiên, để xác định chính xác khung và mức hình phạt cụ thể còn phải dựa vào kết luận của cơ quan điều tra. Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46 và những tình tiết giảm nhẹ được Tòa án ghi nhận để quyết định mức hình phạt tương ứng. 

Căn cứ theo Điều 12 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Em bạn còn 4 tháng nữa là đủ tuổi 18 tuổi nên em bạn đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 

Căn cứ theo Điều 69* bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội:

1.Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.

Trong mọi trường hợp điều tra, truy tố, xét xử hành vi phạm tội của người chưa thành niên, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.

2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.

3. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.

4. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này.

…..

Như vậy, nếu em bạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép theo khoản 1 Điều 194 với khung hình phạt cao nhất là 7 năm tù giam – là tội nghiêm trọng nên em bạn có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu em bạn có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục.


Căn cứ theo Điều 74. Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về tù có thời hạn như sau:

Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.

Do đó, nếu em bạn không được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự, bị Tòa án quyết định hình phạt tù thì mức phạt tù cao nhất được áp dụng cho em bạn không quá ¾ mức phạt tù mà điều luật quy định. 

Nếu em bạn đủ điều kiện được miễn trách nhiệm hình sự thì sau khi có quyết định của Tòa án em bạn có thể thực hiện đi học bình thường dưới sự giám sát của gia đình, tổ chức giáo dục. Nếu em bạn bị Tòa án tuyên hình phạt tù thì sau khi chấp hành xong hình phạt tù theo quy định em bạn mới được trở về địa phương và tiếp tục đi học. 

2. Quy định về án treo:

Theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009 quy định thì:
 
"1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
 
….
 
Điều kiện hưởng án treo
 
Tại Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn, chỉ cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

"1. Bị xử phạt tù không quá ba năm, không phân biệt về tội gì.

Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá ba năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.

2. Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng.

3. Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên.

4. Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm."

Do đó, nếu em bạn đáp ứng được các điều kiện trên thì sẽ được Tòa án cho hưởng án treo.

Trân trọng./.
Bộ phận luật sư hình sự - Công ty luật Minh Khuê