Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Doanh nghiệp của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900 6162

Nhóm của tôi có 10 người, chúng tôi muốn thành lập một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân nhưng vẫn đang phân vân giữa hợp tác xã hay doanh nghiệp.

Nhờ luật sư tư vấn giúp chúng tôi.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Luật thương mại năm 2005.

- Luật hợp tác xã năm 2012.

- Luật doanh nghiệp năm 2014.

- Luật kế toán năm 2015.

- Bộ luật dân sự năm 2015.

- Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21/11/2013 của Chính phủ.

- Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 của Chính phủ.

- Nghị định số 107/2017/NĐ-CP ngày 15/09/2017 của Chính phủ.

- Nghị định số 108/2018/NĐ-CP ngày 23/08/2018 của Chính phủ.

2. Luật sư tư vấn:

Như đã biết, hợp tác xã và doanh nghiệp là các tổ chức kinh tế được pháp luật nước ta đặc biệt chú ý, chúng nắm giữ vai trò chủ yếu trong nền kinh tế Việt Nam. Tất nhiên là giữa hai chủ thể này cũng có những điểm khác biệt, cụ thể trong trường hợp của bạn, chúng tôi sẽ tập trung vào các loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu (công ty CP, công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty HD - trong bài này gọi chung là "doanh nghiệp") và hợp tác xã ,cần lưu ý tới mấy nội dung sau:

- Về địa vị pháp lý:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật thương mại: "Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh".

Trong đó, "tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp" bao gồm các loại hình doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo Luật hợp tác xã.

Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật hợp tác xã: "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã". Như vậy, hợp tác xã là tổ chức kinh tế có tư pháp nhân.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 47, khoản 2 Điều 110, khoản 2 Điều 172 Luật doanh nghiệp, có thể xác nhận rằng công ty CP, công ty TNHH hai thành viên trở lên và công ty HD cũng là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân.

Tư cách pháp nhân của hợp tác xã và doanh nghiệp được xác lập kể từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký.

- Về cơ quan đăng ký:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 193/2013/NĐ-CP: "Hợp tác xã đăng ký tại Phòng Tài chính - Kế hoạch thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện".

Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP:

"Ở cấp tỉnh: Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư (sau đây gọi chung là Phòng Đăng ký kinh doanh). Phòng Đăng ký kinh doanh có thể tổ chức các điểm tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả thuộc Phòng Đăng ký kinh doanh tại các địa điểm khác nhau trên địa bàn cấp tỉnh".

Như vậy, có thể thấy việc thành lập hợp tác xã có đôi chút thuận tiện hơn so với thành lập doanh nghiệp, bởi hợp tác xã đăng ký ở cơ quan cấp huyện còn doanh nghiệp đăng ký ở cơ quan cấp tỉnh.

- Về việc góp vốn thành lập: Trường hợp nhóm của bạn đều là cá nhân.

Đối với hợp tác xã: Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 193/2013/NĐ-CP: "Đối với hợp tác xã, vốn góp của thành viên thực hiện theo thỏa thuận và theo quy định của điều lệ nhưng không quá 20% vốn điều lệ của hợp tác xã". Như vậy, pháp luật có hạn chế về mức trần góp vốn của thành viên.

Đối với doanh nghiệp: Pháp luật không hạn chế về mức trần góp vốn của cổ đông, thành viên.

- Về chế độ kế toán:

Đối với hợp tác xã: Hiện hành, chế độ kế toán của hợp tác thực hiện theo Luật kế toán, Thông tư số 24/2017/TT-BTC.

Đối với doanh nghiệp: Hiện hành, chế độ kế toán của doanh nghiệp thực hiện theo Luật kế toán, Thông tư số 200/2014/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 53/2016/TT-BTC), Thông tư số 133/2016/TT-BTC - đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, Thông tư số 132/2018/TT-BTC - đối với doanh nghiệp siêu nhỏ.

Như vậy, xét về số lượng các lựa chọn, thì doanh nghiệp có nhiều lựa chọn về chế độ kế toán hơn so với hợp tác xã. Việc này sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

- Về việc chuyển đổi giữa hợp tác xã và doanh nghiệp:

Theo quy định pháp luật hiện hành, hợp tác xã và doanh nghiệp không thể chuyển đổi qua lại với nhau.

Trường hợp đã thành lập hợp tác xã, sau đó lại muốn thành lập doanh nghiệp thì nhóm của bạn có thể cân nhắc thành lập "doanh nghiệp của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã". Các doanh nghiệp này vẫn hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp.

Trường hợp đã thành lập doanh nghiệp, sau đó doanh nghiệp này có thể góp vốn thành lập hợp tác xã, trở thành một thành viên của hợp tác xã.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê