Tôi xin đưa ra trường hợp cụ thể của tôi và kính mong công ty lưu tâm xem xét giúp đỡ tôi.
1. Tôi vào công ty vốn 55% là nhà nước,45 cổ phẩn. được cổ phẩn từ năm 2007
-Tháng 12 năm 2007 tôi vào thử việc và có hợp đồng thử việc.
- Ngày 1/2/2008 tôi ký hợp đồng đến 1/2/2009
- Ngày 1/2/2009 tôi ký tiếp hợp đồng lao động đến 1/2/2010
- Ngày 1/2/2010 tôi ký tiếp hợp đồng lao động đến 1/2/2011
- Ngày 1/2/2012 tôi ký tiếp hợp đồng lao động đến 1/2/2013
 Nay thời hạn hợp đồng của tôi đã hết mà công ty đang cố tính gây sự việc khó dễ cho tôi để ct chấm dứt hợp đồng lao động với tôi.
Điều 1: Hợp đồng của tôi cty ký có đúng với luật hay chưa?
Điều 2: Khi tôi nghỉ tôi được những đãi ngộ gì phía công ty cho tôi ( lưu ý: Tôi đóng BHXH,KPCD,BHTN,BHYT)
 
Tôi có thể xem những bộ luật đó từ đâu để đọc? công ty có thể gửi kèm jup tôi gửi các văn bản liên quan đến cv của tôi ko?
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hợp tác chân thành từ quý công ty.
Người gửi: Hoài Trần
 
 

Trả lời:

Ý kiến thứ nhất:

Vấn đề mà bạn hỏi, tôi xin trả lời như sau:

Thứ nhất, hợp đồng lao động mà bạn đang thực hiện (từ ngày 1/2/2012 đến ngày 1/2/2012) là chưa đúng quy định luật.

Bởi theo quy định tại Điều 27 của Bộ luật lao động,

“1– Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn.

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm một thời hạn, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn”.

Như vậy,các hợp đồng mà bạn đã ký thuộc loại hợp đồng xác định thời hạn (thuộc quy định tại điểm b Điều 27 BLLĐ). Do đó, hợp đồng được lý kết có hiệu lực từ ngày 1/2/2010 đã là hợp đồng không xác định thời hạn rồi bạn nhé!

Thứ 2, khi bạn nghỉ việc, Quyền lợi của bạn sẽ được giải quyết như sau:

Theo quy định tại khoản 1, Điều 42, Bộ luật Lao động, khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ một năm trở lên, người sử dụng lao động có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm làm việc là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương, nếu có.

Còn Điều 15, Nghị định 114/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định, tiền lương làm căn cứ tính các chế độ trợ cấp thôi việc là tiền lương theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi sự việc xảy ra, gồm tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

Theo quy định tại khoản 6, Điều 139, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động.

Do đó, khi chấm dứt hợp đồng lao động với công ty, bạn sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc và được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Tuy nhiên, nếu mà bên công ty bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật thì quyền lợi của bạn sẽ được giải quyết theo Điều 41 Bộ luật lao động bạn nhé!

Bạn có thể tham khảo các văn bản liên quan như: Bộ luật lao động đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2008; Luật bảo hiểm xã hội năm 2006.

Các văn bản này bạn có thể tìm kiếm trên Web: Tham khảo văn bản luật lao động tại đây

 

Ý kiến bổ sung thứ hai:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục.Câu hỏi của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Lao động năm 1994 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động số 35/2002/QH10 năm 2002, Bộ luật lao động số 74/2006/QH11 sửa đổi năm 2006, Bộ luật lao động số 84/2007/QH11 sửa đổi năm 2007 quy định: Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Điều 27 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002, 2006, 2007 và Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động (Nghị định số 44/2003/NĐ-CP) xác định có các loại hợp đồng sau đây:

1. Hợp đồng lao động không xác định thời hạn áp dụng cho những công việc không xác định được thời điểm kết thúc hoặc những công việc có thời hạn trên 36 tháng.

2. Hợp đồng lao động xác định thời hạn áp dụng cho những công việc xác định được thời điểm kết thúc trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng.

3. Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng áp dụng cho những công việc có thể hoàn thành trong khoảng thời gian dưới 12 tháng hoặc để tạm thời thay thế người lao động bị kỷ luật chuyển làm công việc khác có thời hạn, người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, người lao động nghỉ việc vì lý do khác và hợp đồng với người đã nghỉ hưu.

Khi hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp động lao động mới. Trong thời hạn chưa ký được hợp đồng lao động mới, hai bên phải tuân theo hợp đồng lao động đã giao kết. Khi hết thời hạn 30 ngày mà không ký hợp đồng lao động mới, hợp đồng lao động đã giao kết trở thành hợp đồng không xác định thời hạn. Trường hợp ký hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn, thì chỉ được ký thêm một thời hạn không quá 36 tháng, sau đó nếu người lao động tiếp tục làm việc thì ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn; nếu không ký thì đương nhiên trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn.

Theo thông tin bạn đưa ra thì công ty đã ký hợp đồng lao động với bạn 4 lần ( HĐLĐ lần 1có thời hạn từ 1/2/2008 đến 1/2/2009; HĐLĐ lần 2 có thời hạn từ 1/2/2009 đến 1/2/2010; HĐLĐlần 3 có thời hạn từ 1/2/2010 đến 1/2/2011; HĐLĐ lần 4 có thời hạn từ 1/2/2012 đến 1/2/2013. Như vậy, các HĐLĐ được ký kết giữa bạn và công ty đều là HĐLĐ xác định thời hạn. Việc ký kết HĐLĐ giữa bạn và công ty là chưa đúng quy định của pháp luật.Bởi lẽ:

Khi chấm dứt HĐLĐ lần 1 với bạn, giữa bạn và công ty đã ký HĐLĐ lần thứ 2 có thời hạn là 1 năm ( từ 1/2/2009 đến 1/2/2010- như vậy điều này là đúng theo quy định của pháp luật vì HĐLĐ mới này là HĐLĐ xác định thời hạn và không quá 36 tháng). Tuy nhiên, sau khi HĐLĐ thứ hai hết hạn bạn vẫn làm việc cho công ty và ký tiếp HĐLĐ thứ 3 nhưng HĐLĐ thứ 3 này phải là HĐLĐ không xác định thời hạn thì mới đúng theo quy định của pháp luật.

Và bạn có hỏi nếu bạn nghỉ việc thì  được những đãi ngộ gì từ phía công ty?Bạn có nói rằng công ty đang cố tính gây sự việc khó dễ cho bạn để chấm dứt hợp đồng lao động với bạn nhưng bạn lại không nói rõ công ty đang gây “ khó dễ” cho bạn như thế nào?Điều này đã được thể hiện bằng một quyêt định chính thức hay chưa? Vì vậy, tôi có thể giả định một số trường hợp có thể xảy ra:

+ TH1: Nếu công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ với bạn trái luật ( tức chấm dứt HĐLĐ với bạn mà không thuộc vào những quy định tại Điều 38 BLLĐ) thì phải nhận bạn vào làm việc. Nếu không sẽ phải bồi thường cho bạn.  Điều này được quy định tại khoản 1, Điều 41 Bộ luật Lao động quy định:

“Trong trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật thì phải nhận NLĐ trở lại làm công việc theo hợp đồng đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương (nếu có) trong những ngày NLĐ không được làm việc, cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có).

Trong trường hợp NLĐ không muốn trở lại làm việc, thì ngoài khoản tiền được bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này, NLĐ còn được trợ cấp theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật này.

Trường hợp NSDLĐ không muốn nhận NLĐ trở lại làm việc và NLĐ đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại đoạn 1 khoản này và trợ cấp quy định tại Điều 42 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận về khoản tiền bồi thường thêm cho NLĐ để chấm dứt HĐLĐ.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 42 Bộ luật Lao động thì khi chấm dứt HĐLĐ với NLĐ đã thường xuyên trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức từ đủ 12 tháng trở lên, NSDLĐ có trách nhiệm trợ cấp thôi việc, cứ mỗi năm là nửa tháng lương, cộng với phụ cấp lương (nếu có).

Như vậy, bạn sẽ được bồi thường một khoản tiền+trợ cấp thôi việc ( nếu công ty chấm dứt HĐLĐ với bạn trái với các quy định tại Điều 38 BLLĐ)

+ TH2: Nếu công ty do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ mà buộc phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh dẫn đến NLĐ bị mất việc làm thì công ty có thể cho bạn thôi việc nhưng phải trả trợ cấp mất việc làm cho bạn. Điều này được quy định tại khoản 1 Điều 17 Bộ luật lao động và khoản 3 Điều 11 Nghị định 39/2003/NĐ-CP ngày 18/4/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm. Theo đó thì NSDLĐ có thể cho người lao động thôi việc trong các trường hợp sau: Thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn; thay đổi cơ cấu tổ chức như sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị và những thay đổi này dẫn đến người lao động bị mất việc làm và người sử dụng lao động đã đào tạo lại nghề cho người lao động để sử dụng vào công việc mới nhưng vẫn không giải quyết được việc làm.

Mức chi trả trợ cấp mất việc làm: Cứ mỗi năm làm việc trả một tháng lương, nhưng thấp nhất cũng phải bằng hai tháng lương. Cụ thể như sau:

Cách tính mức trợ cấp mất việc làm được quy định tại Điều 12 Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm và được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 39/2009/TT- LĐXH hướng dẫn thi hành Điều 12 của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP. Theo đó thì:

 Công thức tính trợ cấp mất việc làm:

Tiền trợ cấp mất việc làm

=

Số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm

x

Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm

x

01

Trong đó:

- Số năm được tính hưởng trợ cấp mất việc làm (được tính theo năm) được xác định là tổng thời gian người lao động làm việc liên tục cho người sử dụng lao động đó được tính từ khi bắt đầu làm việc đến khi người lao động bị mất việc làm, trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Điều 41 của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp. Trường hợp tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên nhưng tổng thời gian làm việc tính trợ cấp mất việc làm dưới 12 tháng) thì được làm tròn như sau:

+ Dưới 01 (một) tháng không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm;

+ Từ đủ 01 (một) tháng đến dưới 06 (sáu) tháng được làm tròn thành 06 (sáu) tháng làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 1/2 (nửa) tháng lương;

+ Từ đủ 06 (sáu) tháng trở lên được làm tròn thành 01 (một) năm làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 01 (một) tháng lương.

- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 06 tháng liền kề của người lao động trước khi bị mất việc làm, bao gồm: tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).

- 01 (một) là một tháng lương cho mỗi năm làm việc.

- Mức trợ cấp việc làm thấp nhất bằng 02 (hai) tháng lương, trừ trường hợp thời gian để tính trợ cấp mất việc làm của người lao động làm dưới 01 (một) tháng.

Ngoài trợ cấp mất việc làm bạn còn được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 42 BLLĐ.

Trợ cấp mất việc làm khi thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp:

Trợ cấp mất việc làm khi thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp: Thời gian NLĐ đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại khoản 1 điều 41 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP, ngày 12/12/2008 của Chính phủ không được tính hưởng trợ cấp mất việc làm. Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi mất việc làm, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực và phụ cấp chức vụ (nếu có).

Cách tính trợ cấp mất việc làm được áp dụng từ ngày 1/1/2009 (ngày Nghị định số 127/2008/NĐ - CP ngày 12/12/2008 của Chính phủ có hiệu lực thi hành). Không áp dụng cách tính trợ cấp mất việc làm nói trên để tính lại trợ cấp mất việc làm đối với những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động trước ngày 1/1/2009.

Về mức hưởng BHTN:

Để hưởng trợ cấp thất nghiệp, người thất nghiệp phải đáp ứng đủ các điều kiện được quy định tại Điều 2 Thông tư 32/2010/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp (TT32): Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ mười hai tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật. Tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động được tính nếu người sử dụng lao động và người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, người lao động đã thực hiện hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc ít nhất 01 ngày trong tháng đó; đã đăng ký thất nghiệp với Trung tâm Giới thiệu việc làm thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây được viết tắt là Trung tâm Giới thiệu việc làm) khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật; chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày tính theo ngày làm việc kể từ ngày đăng ký thất nghiệp với Trung tâm Giới thiệu việc làm theo quy định tại khoản 2 Điều 2.
Theo Điều 3 TT32, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật. Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì sáu tháng liền kề để tính mức trợ cấp thất nghiệp là bình quân của sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp là ba tháng, nếu có từ đủ mười hai tháng đến dưới ba mươi sáu tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; sáu tháng, nếu có từ đủ ba mươi sáu tháng đến dưới bảy mươi hai tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; chín tháng, nếu có từ đủ bảy mươi hai tháng đến dưới một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; mười hai tháng, nếu có từ đủ một trăm bốn mươi bốn tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trở lên.

Trân trọng!

Tham khảo:

Điều 38 Bộ luật lao động năm 1994 ( sửa đổi, bổ sung năm 2002,2006,2007);

Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật lao động về việc làm;

Thông tư số 39/2009/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thi hành Điều 12 của Nghị định số 39/2003/NĐ-CP;

Thông tư 32/2010/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12-12-2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê