Trong quá trình sử dụng thì ngoài 40m2 mà ông Bảy cho mượn ban đầu bà Mười còn cất ra thêm 1,2m2 nữa. Một thời gian sau thì bà Mười mua được một miến đất khác. Nên ông Bảy đòi lại phần đất đã cho bà Mười mượn để ở trước đây. Bà Mười không trả và đi thưa ông Bảy, vì theo bà Mười thì phần đất đó là do bà mua của ông Bảy với giá 50.000 đồng. Hòa giải ở cơ sở không thành. Sau đó bà Mười gửi đơn lên UBND thị trấn. Khi ra hòa giải ở UBND thị trấn thì ông Bảy chấp nhận cho thêm bà Mười ½ diện tích mà bà đã lấn chiếm cụ thể là 1,2m2 và các bên đã ký tên vào biên bản hòa giải. Sau đó thì cán bộ lên cắm ranh nhưng bà Mười không cho cắm. Sự việc cũng dần trôi qua. Cho đến thời gian gần đây, bà Mười gửi đơn kiện đòi lại 70m2 đất. Khi được mời lên hòa giải thì 2 người con của ông Bảy mới biết là lúc trước ông Bảy ký tên vào biên bản hòa giải nhượng cho bà Mười 70m2, chứ không phải là 40m2 ban đầu cộng thêm với 6 tất. (Ông Bảy không biết chữ). Mà hiện tại bây giờ thì ông Bảy đã mất. Và hiện tại thì toàn bộ phần diện tích đất của ông Bảy là do người con thứ 2 của ông đứng tên (bao gồm cả phần diện tích 70m2 mà bà Mười đòi). Luật sư cho cháu hỏi người con thứ 2 của ông Bảy có phải đưa 70m2 cho bà Mười không? Xin chân thành cảm ơn luật sư!

Câu hỏi  được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn Luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

 Bộ luật dân sự năm 2005 

 Luật Đất đai năm 2013 

2. Nội dung tư vấn:

>> Xem thêm:  Sang tên sổ đỏ chia thừa kế như thế nào sau khi bố và mẹ kế mất ?

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 167; Điều 188 Luật đất đai năm 2013:

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

>> Xem thêm:  Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với từng loại đất theo quy định của pháp luật đất đai ?

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Theo điều 121 Bộ luật dân sự năm 2005 quy đinh:

Điều 122. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự  

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

2. Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Trong trường hợp trên thì  ngay từ đầu hợp đồng mua 40m2 đất của ông Mười và bà Bảy là không có giấy tờ hợp lệ, hơn nữa hợp đồng ông Bảy nhượng lại đất cho bà Mười lại không có công chứng hoặc chứng thực( quy định tại Khoản 3, Điều 167), và cũng không hề nói tới việc có những giấy tờ quy định tại Điều 188. Hợp đồng này cũng không đáp ứng điều kiện của giao dịch dân sự quy định tại Điều 121 Bộ luật dân sự, do ông Bảy không biết chữ nghĩ rằng việc chuyển nhượng đó là chuyển nhượng 40m2 đất cộng thêm 6 tấc nữa chứ không hề biết đó là 70m2 đất do đó mà hợp đồng chuyển nhượng này ông bảy không tự nguyện hoặc bị lừa dối, do đó mà việc chuyển nhượng 70m2 đất cho bà Mười là không có căn cứ. Vì vậy, người con thứ hai của ông Bảy không phải trả lại 70m2 đất cho bà Mười.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn xin cấp sổ đỏ (sổ hồng), sang tên nhà đất

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua nhà ?