Khi em đi đăng kí người ta đòi em phải có giấy xác nhận độc thân sau khi ly hôn trong thời gian em vẫn còn khẩu ở nhà chồng cũ ở Hải Dương trong vòng 5 tháng em chưa chuyển khẩu về Thanh Hoá. Vậy cho em hỏi khi đi đăng kí kết hôn lần hai em có phải về nhà chồng cũ để xin giấy xác nhận độc thân trong thời gian em còn khẩu ở đó không hay chỉ cần giấy xác nhận ly hôn và giấy xác nhận độc thân của chồng mới em ? 

Cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về thủ tục kết hôn, gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

1. Căn cứ pháp lý:

Luật hộ tịch năm 2014;

Nghị định 123/2015/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Hộ tịch;

Thông tư 15/2015/TT-BTP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP.

2. Luật sư tư vấn:  

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

Về thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, Điều 21 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP quy định như sau:

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân....

Và Khoản 4 Điều 22 quy định:

4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, Ủy ban nhân dân cấp xã được yêu cầu tiến hành kiểm tra, xác minh và trả lời bằng văn bản cho Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu về tình trạng hôn nhân của người đó trong thời gian thường trú tại địa phương.

Như vậy, dù bạn đã chuyển hộ khẩu về quê gốc (Thanh Hóa) tuy nhiên, do bạn đã đăng ký thường trú ở nhiều nơi (nhà chồng) nên theo quy định trên, bạn sẽ phải thực hiện việc chứng minh về tình trạng hôn nhâ, điều này đồng nghĩa với việc bạn sẽ phải về quê chồng - nơi bạn đăng ký thường trú trước khi chuyển về nhà mẹ đẻ để xác nhận về tình trạng hôn nhân trong thời gian 05 tháng bạn còn hộ khẩu ở đó. Sau đó về địa phương bạn xác nhận và UBND xã, phường nơi bạn đang thường trú sẽ kiểm tra và xem xét việc cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Về thủ tục xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sau khi ly hôn, Khoản 2 Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP và khoản 3 Điều 25 Thông tư 15/2015/TT-BTP quy định như sau:

Điều 22 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP

2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.

Khoản 3 thông tư số 15/2015/TT-BTP 

3. Mục “Tình trạng hôn nhân” phải ghi chính xác về tình trạng hôn nhân hiện tại của người đó, cụ thể như sau:

- Nếu chưa bao giờ kết hôn thì ghi “Chưa đăng ký kết hôn với ai”.

- Nếu đang có vợ/chồng thì ghi “Hiện tại đang có vợ/chồng là bà/ông... (Giấy chứng nhận kết hôn số..., do... cấp ngày... tháng... năm...)”.

- Nếu có đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn và chưa kết hôn mới thì ghi “Có đăng ký kết hôn, nhưng đã ly hôn theo Bản án/Quyết định ly hôn số... ngày... tháng... năm... của Tòa án nhân dân...; hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai”.

- Nếu có đăng ký kết hôn, nhưng vợ/chồng đã chết và chưa kết hôn mới thì ghi “Có đăng ký kết hôn, nhưng vợ/chồng đã chết (Giấy chứng tử/Trích lục khai tử/Bản án số:... do... cấp ngày... tháng... năm...); hiện tại chưa đăng ký kết hôn với ai”.

- Nếu là trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 và vẫn chung sống với nhau mà chưa đăng ký kết hôn thì ghi “Hiện tại đang có vợ/chồng là bà/ông...”.

Mặc dù hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 58/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính thì nay đã bãi bỏ thủ tục cấp giấy xác nhận tình trạng độc thân để đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP vẫn đang có hiệu lực thi hành nên một số địa phương vẫn yêu cầu phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi đăng ký kết hôn. Vì bạn cần lên Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký kết hôn để hỏi rõ về việc UBND có thực hiện theo Nghị quyết số 58/NQ-CP hay chưa. Nếu họ vẫn yêu cầu phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân thì khi thực hiện thủ tục xin giấy xác nhận tình trạng hôn nhân sau khi ly hôn, bạn phải cung cấp các giấy tờ khác chứng minh cho việc mình đã ly hôn, cụ thể là bản án hoặc quyết định ly hôn của mình.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Tư vấn thủ tục kết hôn lần hai ?. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Không có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân có đăng ký kết hôn được không ?

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Có xin cấp lại giấy ghi chú kết hôn được không ?