1. Hồ sơ ly hôn và quyền nuôi con theo quy định mới của luật hôn nhân và gia đình ?

Trong cuộc sống gia đình, con cái là một thứ vô cùng quý giá và quan trọng. Do đó, khi xảy ra rạn nứt và tan vỡ trong hôn nhân, là người làm cha, làm mẹ ai cũng muốn được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và ở cạnh con của mình. Tuy nhiên luật quy định như thế nào về quyền nuôi con khi ly hôn? Dưới đây chúng tôi sẽ giúp bạn rõ hơn về các quy định đó.

Tổng hợp một số câu hỏi thường gặp:

Thủ tục ly hôn Gửi CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ Em kết hôn được 4 năm 6 tháng. Có 2 con chung. Sống chung với bố mẹ chồng và ko có tài sản riêng. Cuộc sống chung nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nay em muốn ly hôn. Xin hỏi thủ tục ly hôn như thế nào ạ?
Xin chào luật sư. Tôi kết hôn nay đã được 5 năm và có với nhau 2 mặt con. Chồng tôi là người nóng tính và nghe mẹ thế nên thường xuyên đánh đập tôi. Tôi đã nhịn quá nhiều rồi nhưng giờ thì ko chịu nổi cuộc sống đó nữa và tôi muốn ly hôn. Tôi muốn hỏi là thủ tục có phức tạp quá ko? Và con cái thì phân chia thế nào?
Luật sư cho em hỏi: chị em và anh rể đã ly hôn đã có bản án của tòa án có hiệu lực ngày 10/01/2016. chị em thường trú ở Ninh Kiều Cần Thơ nhưng đi làm giờ tạm trú ở Phú Nhuận, HCM. Giờ chị em muốn đăng ký việc ly hôn này với UBND mà không biết nộp ở Phú Nhuận có được không? Vì trước đây đăng ký kết hôn ở Ninh Kiều. Nếu được thì cần giấy tờ gì?
Thưa luật sư Tôi đã ly hôn có quyết định của toà, về phân chia tài sản ghi là theo thỏa thuận. Tôi mua lại 1 căn hộ có xác nhận của UB phường từ năm 1996, năm 1998 tôi lấy vợ. Khi làm thủ tục sổ đỏ do phải ghi tên cả 2 vợ chồng nên trong sổ đỏ được cấp có tên cả 2 người. Nay tôi muốn xin cấp lại sổ đỏ mới, xoá tên của người vợ đã ly hôn, thủ tục gồm nhưng giấy tờ gì? Kính mong luật sư tư vấn (căn hộ có trước hôn nhân có giấy xác nhận)
Thưa luật sư, vợ chồng tôi chung sống 19 năm, có 2 đứa con, sinh năm 2001 và 2004, qua quá trình chung sống không thuận nên tôi làm đơn xin đơn phương ly hôn vì chồng không đồng ý ly hôn. vậy tôi xin hỏi luật sư: bản thân tôi muốn nuôi 2 con có được không vì tôi là công chức nhà nước, thu nhập ổn định, còn chồng thì bấp bênh. Mong LS tư vấn giúp tôi để tôi có thêm kiến thức trước khi ra tòa. xin cảm ơn!

Thưa luật sư, Em kết hôn được 3 năm và có 2 con. con trai 2 tuổi và con gái 3 tháng tuổi. Chồng em là thợ chụp hình và em trang điểm cô dâu. Chúng em có 1 tiệm váy cưới nho nhỏ.Nay em muốn làm thủ tục li hôn vì lí do chồng em ham mê rượu chè, suốt ngày đi sớm về khuya không lo cho cuộc sống của gia đình, nhiều lần vợ chồng xảy ra mâu thuẩn, rồi hòa giải nhưng chồng em vẫn chứng nào tật nấy. Nay e muốn đưa đơn li hôn ra tòa với nguyện vọng là được nuôi dưỡng 2 cháu mong quý vị luật sư tư vấn thêm cho em ạ.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Thứ nhất, về hồ sơ khởi kiện xin ly hôn về cơ bản là tương tự nhau, bao gồm:

- Đơn xin ly hôn đơn phương (trường hợp ly hôn đơn phương), Đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn (trường hợp thuận tình ly hôn)

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

- Bản sao có chứng thực CMTND và hộ khẩu của 2 vợ chồng

- Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có)

- Các giấy tờ về quyền sở hữu tài sản (Nếu có yêu cầu phân chia).

Sau khi hoàn tất thủ tục này bạn nên căn cứ vào tình hình cụ thể việc ly hôn của mình để xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau:

- Nếu ly hôn đơn phương: gửi đến TAND cấp quận (huyện) nơi người chồng hoặc vợ là người bị yêu cầu ly hôn cư trú, làm việc

- Nếu ly hôn thuận tình : gửi đến TAND cấp quận (huyện) nơi một trong 2 bên chồng hoặc vợ cư trú, làm việc đều được.

Thứ hai, về quyền nuôi con:

Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con"

Trong trường hợp của bạn, vợ chồng bạn sẽ thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ xem xét, quyết định trên cơ sở bảo đảm quyền lợi mọi mặt của con. Đối với trường hợp con dưới 36 tháng tuổi, mẹ sẽ có quyền trực tiếp nuôi dưỡng con, trên thực tế người mẹ chỉ không có quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp sức khỏe của người mẹ không đảm bảo hoặc về mặt tinh thần của người mẹ không hoàn chỉnh. Còn vấn đề tài chính không phải là yếu tố quyết định bởi khi người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng con thì người cha là người không trực tiếp chăm sóc con sẽ có nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Đối với trường hợp con từ đủ 36 tháng tuổi đến dưới 7 tuổi thì tòa sẽ xem xét về các mặt của người cha và người mẹ để xác định bên nào sẽ đảm bảo quyền, lợi ích tốt nhất cho người con. Một số căn cứ có thể được xem xét như: điều kiện sống từ lúc cháu sinh ra đến khi ly hôn; đạo đức, lối sống có ảnh hưởng đến cuộc sống của cháu con sau này; điều kiện về kinh tế có thể bảo đảm cuộc sống cho con; điều điều kiện về chỗ ở và các điều kiện khác.

Còn đối với các trường hợp con từ đủ 7 tuổi trở lên, việc con ở với ai sẽ do con tự quyết định. Tòa án sẽ tôn trọng quyết định của con.

2. Quy định về chia tài sản sau khi ly hôn như thế nào?

Thưa luật sư, Em lấy chồng được 5 năm có 2 đứa con trước giờ vẫn sống chung với bố mẹ em nhưng nay được đền bù giải tỏa nên bố mẹ em cho một sồ tiền lớn để mua đất cất nhà nhưng bản tính chồng em đào hoa nên em không yên tâm cho tương lai của mẹ con em sau này, hơn nữa chồng em lại có 1 đứa con riêng nên sau này lỡ vợ chồng em ly hôn thì sẽ phân chia tài sản ra sao nếu 2 vợ chồng em cùng đứng tên. Em mong văn phòng luật sư giúp em.

Chào luật sư. Em muốn hỏi về việc phân chia tài sản khi ly hôn. Anh rể em trước khi cưới có vay tiền mua một mảnh đất. Sổ đỏ đề tên (tên anh rể em). Sau khi cưới chị gái em thì hai vợ chồng cùng nhau xây nhà và trả nợ tiền mua đất. Vậy em muốn hỏi nếu anh rể và chị gái em ly hôn thì ngôi nhà ấy phân chia thế nào ạ? Liệu chị gái em có được hưởng phần tài sản từ ngôi nhà đó không ạ? Em xin cảm ơn.

Kính chào luật sư, Xin cho hỏi nếu như tôi có sổ tiết kiệm ( đứng tên mình tôi) là số tiền kiếm được trong thời kỳ hôn nhân - tiền do mình tôi kiếm đựoc. Nếu trong thời kỳ hôn nhân , tôi chuyển tiền cho em gái tôi thì khi ly hôn tài sản đó có phải tài sản chung không và chia đôi cho vợ tôi không ? Xin cám ơn luật sư

Xin chào luật sư! Tôi có câu hỏi thắc mắc mong luật sư giải đáp cho. Do vấn để tâm linh nên khi trước khi cưới vợ chồng tôi có mua 1 mảnh đất nhưng do không được tuổi nên vợ tôi đứng tên. Sau khi cưới vợ chồng tôi mới xây nhà trên mảnh đất đó. Vậy cho hỏi sau này nếu ly hôn thì mảnh đất đó là tài sản chung hay riêng. Cám ơn luật sư.

Theo quy định của Luật hôn nhân gia đình năm 2014, về vấn đề tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn sẽ được chia theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 như sau:

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Theo quy định trên, chúng tôi có thể tư vấn cho bạn như sau:

Nếu hai vợ chồng bạn thỏa thuận được về việc phân chia tài sản thì tài sản đó sẽ được chia theo thỏa thuận của các bạn. Việc hai bên thỏa thuận này phải được lập thành văn bản.

Đối với trường hợp hai bên không thống nhất được về việc phân chia tài sản của hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì tài sản đó sẽ được chia như sau:

Đối với những tài sản hình thành trong thời kì hôn nhân, nếu như không phải là tài sản được tặng cho riêng, tài sản thừa kế hoặc 2 bên không có thỏa thuận đó là tài sản riêng thì đó sẽ được xác nhận là tài sản chung vợ chồng. Trong trường hợp, đó là tài sản hoàn toàn do một bên dùng tài sản riêng của mình kiếm được để mua tài sản đó thì cần có bằng chứng chứng minh về việc đó là tài sản do một mình mình mua được để tòa xem xét xác nhận đó là tài sản riêng.

Đối với những khoản vay trong thời kỳ hôn nhân cũng được xác nhận là khoản nợ chung của hai vợ chồng. Nếu khoản vay đó một bên tự đi vay và bên còn lại không hề biết gì về khoản vay đó thì bên còn lại cũng phải chứng minh được về việc mình không liên quan đến khoản nợ đó. Nếu không chứng minh được thì nó sẽ vẫn được xác nhận là khoản nợ chung và cả hai người đều có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Về việc chia tài sản chung của hai vợ chồng khi ly hôn, tòa sẽ căn cứ vào các yếu tố như sau để xác định mức chia:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Đối với một số trường hợp đặc biệt thì được luật quy định cách chia riêng như sau:

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh.

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

>> Tham khảo ngay: Nếu ngoại tình thì có được quyền nuôi con sau khi ly hôn không ?

>> Xem thêm:  Đã ly hôn chồng không cho gặp con phải làm như thế nào ? Quyền nuôi con khi ly hôn ?

3. Phân chia tài sản và quyền nuôi con khi ly dị ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và chồng kết hôn được 5 năm ( tháng 12/2012) , có chung một con trai sinh tháng 9/2014. Nay vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không giải quyết được nên tôi có ý định muốn ly hôn nhưng không biết có được quyền nuôi con và phân chia tài sản thế nào. Hiện tôi làm giáo viên tại một trường nhà nước, chồng tôi kinh doanh riêng.
Hai vợ chồng mở công ty TNHH kinh doanh phân phối mảng thuốc bảo vệ thực vật từ số vốn ban đầu sau đám cưới là 100 triệu đồng, sau năm năm hoạt động thì công ty phát triển với vốn hiện nay thực có là 2 tỉ, cùng 1 chiếc xe bán tải đời 2016 tri giá 700 triệu, 1 chiếc xe tải mua lại tháng 3/2017 giá 230 triệu đứng tên công ty. Tuy nhiên, vì làm nhà nước nên tôi không đứng tên công ty cùng chồng, mà chồng đứng tên 90% vốn và ba tôi đứng tên 10% lúc thành lập công ty. Nhà cửa của tôi và chồng đang ở thì bố mẹ chồng đứng tên nên coi như không có.
Nên cho tôi hỏi 2 câu:
1. Khi ly hôn tôi có được quyền nuôi con ?
2. Khi ly hôn tôi có được phân chia tài sản từ công ty ?
Cảm ơn!

Trả lời:

Quyền nuôi con:

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền nuôi con sau ly hôn:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy, trường hợp con của bạn chưa đủ 7 tuổi thì quyền nuôi con do Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con.

Phân chia tài sản từ công ty:

Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?

Theo đó, công ty là tài sản được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng bạn do đó bạn vẫn được phận chia khối tài sản từ công ty.

Căn cứ Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

4. Quyền nuôi con khi ly hôn sẽ được giải quyết như thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi và chồng đăng ký kết hôn 25/11/2009. Chúng tôi có 2 con gái, 1 cháu 7 tuổi và 1 cháu hơn 3 tuổi. Do mâu thuẫn ( chồng vu khống danh dự của tôi và không tôn trọng bố mẹ tôi) chúng tôi đã ly thân 2 năm nay và 3 mẹ con tôi chuyển ra ngoài sống được 6 tháng nay. Khi đi 3 mẹ con đi không, không mang đồ đạc gì ngoài xe máy ( đăng ký tên chồng).

Hiện 3 mẹ con sống ở chung cư tôi mua nhưng nhờ chị gái đứng tên. Trong thời gian li thân chồng không đưa cho tôi tiền chăm sóc 2 con, 1 mình tôi tự lo. Chồng tôi đã có 1 con gái riêng 14 tuổi sống cùng chúng tôi. Vậy nếu li hôn thì tôi mong muốn được nuôi cả 2 con có khả năng thành công không ? (tôi làm bác sỹ có đủ điều kiện kinh tế, tình cảm, thời gian dành cho 2 con. Tuy nhiên chồng tôi có khả năng kiếm tiền tốt hơn tôi.)

Tôi xin trân trọng cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Căn cứ vào quy định trên, đối với cháu 7 tuổi cần xem xét nguyện vọng xem cháu quyết định ở với ai; trường hợp không quyết định được thì vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định người trực tiếp nuôi con. Đốí với cháu trên 3 tuổi, việc ai là người nuôi con trước tiên do vợ, chồng thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì Tòa án cũng sẽ quyết định người trực tiếp nuôi con căn cứ dựa trên điều kiện của cả vợ chồng, bên nào có điều kiện tốt hơn bên đó sẽ dành được quyền nuôi con.

Vì vậy chị muốn giành quyền nuôi con thì cần phải đưa ra chứng cứ chứng minh trước Tòa mình có điều kiện tốt hơn chồng chị về mọi mặt để nuôi con phát triển cả về thể chất, nhân cách đạo đức, ví dụ:

- Chị là người có thời gian gắn bó với các con lâu hơn, hiểu về tâm lý con hơn

- Là bác sĩ nên có điều kiện kinh tế ổn định để chăm sóc các con, cũng như đảm bảo về sức khỏe

- Mặc dù người chồng có thu nhập cao hơn nhưng không gần gũi các con, thậm chí trong thời gian ly thân người chồng cũng không quan tâm, chăm sóc các con, không cấp dưỡng cho các con.

- Ngoài ra người chồng còn có hành vi xúc phạm vợ, bố mẹ vợ; đó là những việc làm thiếu đạo đức, như vậy sẽ không đảm bảo có khả năng dạy dỗ các con tốt bằng chị...

5. Làm sao để ly hôn và giành quyền nuôi con ?

Chào luật sư, tôi lập gia đình 5 năm không có con, tôi có xin 1 cháu gái tại bệnh viện vì mẹ nó bỏ đi, tôi đã làm chứng sinh và giấy khai sinh cho cháu (sinh 2014). Tôi và chồng cũ không hạnh phúc nên ra tòa ly hôn 2016, tôi nuôi con không cần cấp dưỡng. Hàng tuần tôi vẫn để ông ấy đón con chơi 1 ngày.
Hiện nay, chồng cũ có hành vi bất thường gần như tự kỷ, ngủ chung với chó thu mình không tiếp xúc ai. Do vậy, mỗi lần đón bé đi cắt liên lạc với tôi. Tết vừa rồi tôi phải nhờ công an tp can thiệp để nhận lại bé. Bây giờ làm thế nào để không cho chồng cũ đón bé vì ảnh hưởng việc nuôi dạy cháu ?
Xin được tư vấn. Chân thành cám ơn.
- Ke That Bai

Theo khoản 3 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

"3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Do đó để ngăn cản người chồng cũ không được thăm nom, chăm sóc con nữa bạn cần căn cứ quy định tại Điều 85, Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Điều 86. Người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Mọi vướng mắc xin vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân và gia đình - Công ty Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại