1 cô và 1 chú của tôi cũng đều được nhà nước chia đất và ổn định cuộc sống,1 cô thì ko rõ tung tích. Tới năm 2003, nhà nước làm sổ đỏ và mảnh đất của ông bà để lại cũng là mảnh đất bố tôi sinh sống từ năm 1989 - 2003 mang tên bố tôi.
Tới nay kể từ khi ông nội tôi mất, đã 27 năm trôi qua, thì con của chú tôi về thăm gia đình và có ý muốn được chia phần đất ông bà để lại
Tôi muốn hỏi theo pháp luật, gia đình tôi có phải chia đất không
Xin cảm ơn luật sư ạ!

Người gửi: T.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Đối với nội dung yêu cầu này, chúng tôi xin được trả lời như sau:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

NỘI DUNG TƯ VẤN

Về nguồn gốc tài sản là do ông nội bạn để lại trước khi chết (dù tài sản này chưa được đăng ký quyền sử dụng). Vào năm 1989 ông nội bạn chết, theo quy định của pháp luật thì thời điểm ông nội bạn chết được xác định là thời điểm mở thừa kế. Căn cứ khoản 1, Điều 633 BLDS:

Điều 633. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

1.Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 81 của Bộ luật này.

Như vậy, mốc thời gian 1989 sẽ được xem là thời điểm để những người thừa kế theo pháp luật có quyền chia di sản. Thời hiệu yêu cầu chia di sản trong trường hợp này là 10 năm tính từ năm 1989 (Căn cứ Điều 645 BLDS) :

Điều 645. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế 

Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Trong trường hợp này, năm 1989 ông nội bạn chết không để lại di chúc, tính đến nay là khoảng 27 năm và không có thỏa thuận của các đồng thừa kế. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì tài sản này được coi là tài sản chung và khi chia sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự về tài sản chung để chia. Điều này được quy định tại Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình như sau :

“2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.”

Theo như thông tin bạn cung cấp thì con của chú bạn về thăm gia đình và muốn chia phần đất ông bà để lại. Căn cứ các quy định của pháp luật thì con của chú bạn không có quyền yêu cầu chia tài sản vì không phải là người thừa kế theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật được quy định tại điều 676 BLDS như sau:

Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật 

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Căn cứ vào quy định nêu trên thì những người ở hàng thừa kế thứ nhất (4 người con của ông nội bạn) sẽ là đồng sở hữu đối với tài sản chung nêu trên.

Kết luận:

- Nếu con của chú bạn yêu cầu chia tài sản thì các bên có thể thỏa thuận chia tài sản, các bên không thỏa thuận được mà con của chú bạn muốn chia tài sản thì phải yêu cầu Tòa án chia tài sản. Nếu con của chú bạn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản thì Tòa án sẽ trả lại đơn khởi kiện vì lý do người khởi kiện không có quyền khởi kiện.

- Nếu những người ở hàng thừa kế thứ nhất (4 người con của ông nội bạn) khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế thì Tòa án sẽ áp dụng các quy định về tài sản chung để giải quyết và việc giải quyết vụ án sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Khi những người ở hàng thừa kế thứ nhất yêu cầu Tòa án chia tài sản thì gia đình bạn phải thực hiện việc chia tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ