Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Xin chào. Tôi là người Hàn Quốc.

Tôi kết hôn với người vợ Việt Nam cách đây một năm và có một con gái.

Con gái tôi sinh tháng 5/2020.

Gần đây tôi đã cãi nhau với vợ và vợ tôi tuyên bố ly hôn.

Người vợ nói sẽ chăm sóc con gái

Nguyên nhân xảy ra cãi vã là do bà nội chăm con nhỏ còn vợ đi câu lạc bộ về khuya. Tôi không thể trả lời ngay cả khi tôi gọi rất nhiều cuộc gọi. Nó khiến tôi nghi ngờ. Tôi hiện đang làm việc cho một công ty xây dựng tại Hồ Chí Minh.

Tôi đã sống ở Việt Nam khoảng 4 năm. Vợ tôi ở nhà bố mẹ đẻ ở Quảng Ngãi. Tôi biết tất cả quá khứ của vợ trước khi kết hôn và tôi không muốn coi đó là vấn đề.

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

Tuy nhiên, liên lạc đã bị mất và người ta không tìm thấy cháu bé. Tôi muốn ly hôn và giành quyền nuôi con. Tôi được trả lương cao trong một công việc ổn định.

Đối với một gia đình vợ nghèo. Cho đến nay, nó đã chuyển từ 20.000.000 mỗi tháng lên 30.000.000 đồng. Nhưng tôi cảm thấy bị phản bội.

Biết vợ còn trẻ nên tôi đã nỗ lực rất nhiều. Nhưng khó khăn bây giờ.

Người vợ nói vô điều kiện rằng gia đình sẽ chăm sóc em bé.

Tôi rất không đồng ý và tôi muốn có quyền nuôi con. Vậy tôi phải làm sao để được giành quyền nuôi con, tôi có bị hạn chế quyền nuôi con nếu không giành được quyền nuôi con?

Giúp tôi

TRẢ LỜI:

CĂN CỨ PHÁP LÝ

Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Bộ luật dân sự 2015;

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Theo thông tin anh cung cấp, anh có đăng ký kết hôn và con anh sinh tháng 5/2020. Như vậy hiện tại con anh chưa được một tuổi. Căn cứ theo Điều 38 Luật hôn nhân và gia đình 2014 của Việt Nam quy định như sau:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Theo quy định này, khi con của anh dưới 03 tuổi sẽ được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Như vậy, để giành được quyền nuôi con. Anh có thể thỏa thuận với người vợ của mình.

Trong trường hợp không thỏa thuận được với vợ, anh phải chứng minh được rằng vợ anh không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc này, anh có thể chứng minh bằng cách:

- Vợ anh không có thu nhập ổn định;

>> Xem thêm:  Có thể ủy quyền để ly hôn được không ? Những lưu ý khi ly hôn ?

- Vợ anh không chăm lo, chăm sóc đến con

- Vợ anh không có thời gian dành cho con

- Vợ anh không có đủ điều kiện cơ bản để nuôi con

Anh nên chứng minh được càng nhiều căn cứ để Tòa án thấy rằng người vợ của anh không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con thì quyền nuôi con sẽ thuộc về anh.

Tuy nhiên, thực tiễn ở Việt Nam. Khi con dưới ba tuổi thì chủ yếu là do người mẹ nuôi con. Nếu anh không chứng minh được các vấn đề như đã nêu ở trên và thực tế người vợ của anh hoàn toàn đủ điều kiện nuôi con thì quyền nuôi con sẽ thuộc về người vợ.

Người không trực tiếp nuôi con, vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ và có các quyền sau:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

>> Xem thêm:  Vợ ngoại tình thì bị xử phạt như thế nào ? Nghi ngờ vợ ngoại tình có ly hôn được không ?

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 83. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

>> Xem thêm:  Quy định của luật hôn nhân gia đình về quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Điều 85. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:

a) Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;

b) Phá tán tài sản của con;

>> Xem thêm:  Con 7 tuổi có quyền lựa chọn ở với bố hoặc với mẹ khi bố mẹ ly hôn không ?

c) Có lối sống đồi trụy;

d) Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, Tòa án có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 86 của Luật này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm. Tòa án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này.

Điều 86. Người có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên

1. Cha, mẹ, người giám hộ của con chưa thành niên, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về ly thân và thủ tục ly hôn ? Quyền dành nuôi con sau khi ly hôn ?

3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khi phát hiện cha, mẹ có hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều này yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

Trong trường hợp khi anh tiến hành ly hôn, Tòa án quyết định giao con cho người vợ nuôi. Anh có thể đợi đến khi con đủ ba tuổi, anh làm thủ tục yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con. Đề nghị Tòa án cho anh được nuôi con. Vì lúc này, khi con đã đủ ba tuổi thì anh chỉ cần chứng minh được rằng, anh sẽ đảm bảo các điều kiện cho bé tốt hơn mẹ thì quyền nuôi con sẽ thuộc về anh.

Thủ tục ly hôn anh có thể chuẩn bị hồ sơ như sau:

- Đơn khởi kiện;

- Bản sao Hộ chiếu, Thẻ căn cước công dân

- Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn

- Bản sao giấy khai sinh con (nếu có con);

- Bản sao chứng minh nhân dân/căn cước công dân/hộ chiếu của vợ;

- Bản sao chứng từ, tài liệu về quyền sở hữu tài sản (nếu có tranh chấp);

Theo khoản 3 Điều 35 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Vì vậy, anh nộp hồ sơ tại Tòa án nhân dân tỉnh nơi vợ anh đang cư trú.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin xét xử ly hôn vắng mặt trong phiên tòa sơ thẩm mới 2021

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi vềTư vấn về giành quyền nuôi con”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thủ tục thỏa thuận phân chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mới nhất

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Bồi thường thiệt hại do con gây ra được quy định như thế nào?

Trả lời:

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự.

Câu hỏi: Quản lý tài sản riêng của con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình?

Trả lời:

Điều 76 Luật hôn nhân quy định Quản lý tài sản riêng của con như sau:

Điều 76. Quản lý tài sản riêng của con

1. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.

2. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.

3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

4. Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.

Câu hỏi: Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự?

Trả lời:

Điều 77 Luật hôn nhân quy định

Điều 77. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

1. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.

3. Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.