1. Hậu quả pháp lý khi vắng mặt không lý do tại buổi hòa giải ly hôn?

Xin chào các Luật sư tư vấn của công ty luật Minh Khuê. Em có một câu hỏi mong được các luật sư giải đáp. Em làm đơn xin đơn phương ly hôn với vợ em và hiện nay được Toà án yêu cầu ra hoà giải lần hai. Nhưng do không có điều kiện trở về mà lại không có đơn xin vắng mặt tại Toà. Xin hỏi Toà sẽ xử lý ra sao trong trường hợp này?
Em xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn về hậu quả pháp lý khi vắng mặt không lý do tại buổi hòa giải ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân và Gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời

Căn cứ vào Điều 207, Điều 208 và Điều 209 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định cụ thể:

"Điều 207. Những vụ án dân sự không tiến hành hòa giải được

1. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt.

2. Đương sự không thể tham gia hòa giải được vì có lý do chính đáng.

3. Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án ly hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.

4. Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hòa giải."

Điều 208. Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

1. Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự. Trước khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên họp và nội dung của phiên họp.

2. Trường hợp vụ án dân sự không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.

Điều 209. Thành phần phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

1. Thành phần tham gia phiên họp gồm có:

a) Thẩm phán chủ trì phiên họp;

b) Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp;

c) Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự;

d) Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu cầu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động. Trường hợp đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động không tham gia hòa giải thì phải có ý kiến bằng văn bản;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có);

e) Người phiên dịch (nếu có).

Trong vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành phiên họp và việc tiến hành phiên họp đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành phiên họp giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên họp. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên họp và việc mở lại phiên họp cho đương sự.

Như vậy theo khoản 3 Điều 209 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì anh và vợ anh (hoặc người đại diện hợp pháp) bắt buộc phải có mặt tại phiên hòa giải. Tuy nhiên trên thực tế anh không thể có mặt tại phiên hòa giải, cũng không ủy quyền cho người khác tham gia hòa giải cũng như anh không có đơn xin vắng mặt tại phiên hòa giải. Anh không có đơn xin vắng mặt tại phiên hòa giải tức là không có căn cứ cho rằng anh vắng mặt vì lý do chính đáng. Các đương sự có mặt đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải này không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của anh thì Thẩm phán vẫn tiến hành hòa giải giữa những đương sự có mặt. Nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải. Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hòa giải và việc mở lại phiên hòa giải cho đương sự biết. Nhưng đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của anh trong vụ án này cụ thể anh là nguyên đơn trong vụ án Ly hôn thì anh chính là người yêu cầu giải quyết mà anh vắng mặt không có đơn hay lý do chính đáng thì Tòa án sẽ tiến hành ra quyết định đình chỉ vụ án. Bởi vì anh là nguyên đơn, là người nộp đơn khởi kiện khi anh vắng mặt thì được hiểu là anh đã từ bỏ quyền khởi kiện của mình.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Phân chia tài sản giữa bố và mẹ kế khi ly hôn?

Xin kính chào luật sư. Tôi có một số băn khoăn kính mong luật sư giải đáp giúp. Bố mẹ tôi được thừa hưởng mảnh đất do ông bà để lại hiện sổ đỏ mang tên bố tôi. Năm 2002 mẹ tôi mua thêm một mảnh đất khác, trong giấy tờ mua đất đứng tên của mẹ tôi, mảnh đất đó đến nay vẫn chưa có sổ đỏ. Năm 2004 mẹ tôi mất, bố tôi lấy vợ hai.
Hai người không có con chung. Bố tôi bán một phần tài sản mà ông bà để lại để xây nhà trên mảnh đất mẹ tôi mua. Do mâu thuẫn gia đình bố tôi và mẹ kế đang tiến hành thủ tục ly hôn. Vậy tôi có một số câu hỏi, mong luật sư tư vấn:
1. Khi ly hôn mẹ kế tôi có được chia tài sản trên mảnh đất mà mẹ tôi mua không?
2. Phần tài sản trước hôn nhân do ông bà tôi để lại đang đứng tên của bố tôi, mẹ kế tôi có quyền được thừa hưởng không ?
Kính mong luật sư giải đáp giúp. Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Điều 33 và 43 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

Điều 43. Tài sản riêng của vợ chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Từ hai quy định trên ta thấy rằng:

Đối với mảnh đất bố bạn được ông bà tặng cho riêng được xác định là tài sản riêng của bố bạn.

Đối với ngôi nhà xây dựng trên mảnh đất mà mẹ bạn để lại được xác định là tài sản riêng của bố bạn nếu có căn cứ để chứng minh nguồn gốc số tiền để xây dựng ngôi nhà là tiền riêng của bố bạn. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh căn nhà này là tài sản riêng của bố bạn thì tài sản này được coi là tài sản chung.

Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn:

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.......

Như vậy, nếu có các căn cứ chứng minh ngôi nhà, quyền sử dụng đất là của riêng của bố bạn thì khi ly hôn tài sản này sẽ không phải chia cho mẹ kế. Trong trường hợp không có căn cứ chứng minh ngôi nhà là tài sản riêng của bố bạn thì sẽ chia cụ thể theo quy định tại Khỏan 2 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Phân chia tài sản khi ly hôn mà không có giấy đăng ký kết hôn?

Thưa luật sư, Em có thắc mắc rất mong được luật sư giải đáp. Cha mẹ em cưới nhau năm 1994, nhưng thời điểm đó không có làm giấy đăng ký kết hôn, và hiện tại cũng không có giấy đăng ký kết hôn.

Năm 2018, mẹ em phát hiện ra cha em có vợ bé bên ngoài, và 1 vài lần vũ phu với mẹ em, làm khó dễ mẹ em những việc nhỏ nhặt nhất. Hiện tại nhà em đang kinh doanh vôi, thuốc thủy sản và 1 vài mặt hàng khác. Tất cả tài sản trong nhà là của chung nhưng gần như cha em đứng tên. Vậy cho em hỏi, nếu mẹ em muốn ly hôn thì phải làm cách nào và tài sản được chia ra sao? Gia đình em có 4 người, cha em, mẹ em, em và em trai em sinh năm 1998.

Mong được sự hồi âm sớm nhất từ luật sư. Em xin chân thành cảm ơn!

Phân chia tài sản giữa bố và mẹ kế khi ly hôn ?

Luật sư dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Mặc dù pháp luật hiện hành không công nhận quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn (Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình 2014) nhưng vẫn có 02 ngoại lệ sau đây:

1/ Nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước 03/01/1987

Lúc này, hai người vẫn được công nhận là vợ chồng hợp pháp kể từ ngày hai bên xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng. Khi đó, hai bên nam, nữ được khuyến khích và tạo điều kiện để đăng ký kết hôn.

(Điều 44 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hộ tịch 2014).

2/ Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ 03/01/1987 đến trước 01/01/2001

Theo quy định tại Điều 131 Luật Hôn nhân gia đình 2014: "Quan hệ hôn nhân và gia đình được xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết".

Bởi vậy, việc chung sống với nhau như vợ chồng trước 01/01/2015 được áp dụng pháp luật của thời điểm hai người chung sống với nhau.

Trong trường hợp này, bố mẹ bạn không đăng ký kết hôn và chung sống với nhau như vợ chồng thì khi ly hôn, con và tài sản sẽ được phân chia theo sự thỏa thuận của các bên. Các bạn là con nên có quyền lựa chọn sống cùng bố hoặc mẹ. Về tài sản, nếu không thể thỏa thuận được sẽ chia theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 và pháp luật khác có liên quan. Tài sản riêng khi ly hôn sẽ là tài sản của riêng mỗi người. Những tài sản đứng tên bố bạn sẽ thuộc quyền sở hữu của bố bạn. Tuy nhiên, mẹ bạn cũng có thể yêu cầu tòa án giải quyết về tài sản chung, do cả hai bên gây dựng nên. Nếu chứng minh được đó là tài sản chung có sau thời kỳ hôn nhân thì sẽ được phân chia theo quy định tại Điều 219 Bộ luật dân sự 2005 như sau:

Điều 219. Chia tài sản thuộc hình thức sở hữu chung

1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Lúc này tòa án sẽ căn cứ vào công sức và mức độ đóng góp của mỗi người vào khối tài sản mà quyết định quyền lợi được hưởng của mỗi bên. Nếu tài sản nào không chia được thì sẽ do 1 bên giữ nhưng bên đó phải thanh toán số tiền bằng với phần tài sản đó.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Phải chứng minh những gì để được nuôi con khi ly hôn?

Thưa luật sư, xin hỏi: vợ chồng em kết hôn đầu năm 2012 và sinh được 1 bé gái vào cuối năm 2012. Sau khi kết hôn 2 vợ chồng sống chung với gia đình chồng và chồng em hay cờ bạc rượu chè và về hay đánh đập em.

Năm 2015 chồng đánh em phải nhập viện, sau khi xuất viện em làm đơn ly hôn có được tòa giải quyết gần xong nhưng chồng năn nỉ nên em rút đơn về và thuê nhà ra sống chung cách nhà ba mẹ chồng 500m. Lần này có bằng chứng vì có hồ sơ bệnh án. Từ 2015 sau khi rút đơn thuê nhà sống chung chồng e vẫn không sữa đổi mà vẫn thường xuyên chửi bới đánh đập em. Ngày 30/01/2018 chồng đánh đập em và đòi giết em, nên e phải thuê phòng để ở riêng. Còn chồng dẫn con qua nhà ba mẹ chồng ở cách đó 500m. Ngày 31/01/2018 em làm đơn khởi kiện ly hôn gửi tòa ánngày 31/01/2018 em về nhà dẫn con đi nhưng chồng không những không cho mà còn không cho con gặp e và thường xuyên hăm dọa con là không được đi với mẹ nếu con đi thì ba giết con còn không thì chặt hết 2 chân của con.

Làm con bé rất sợ vì trước đó nó đã bị ám ảnh vì nhiều lần chứng kiến cảnh ba đánh mẹ. Vì sợ ảnh hưởng tới tinh thần của con nên e phải tranh thủ lên trường mầm non thăm con đang học vào mỗi buổi trưa. Ngày 08/03/2018 tòa gọi em lên nộp án phí ngày 07 và ngày 11/05/2018 tòa tiến hành hòa giải nhưng chỉ một mình em lên, con chồng không tới nên tòa giải quyết vắng mặt. Tóm tắt: hai vợ chồng có con chung sinh 2012 (5 tuổi) con gái. Hai vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung. Chồng em không bằng cấp, chỉ ở nhà chăn nuôi heo lại hay nhậu nhẹt đề đóm nên không ổn định mà thua lỗ. Em là kỹ sư xây dựng, có công việc và thu nhập ổn định. Vậy cho em hỏi căn cứ vào điều luật nào để em giành quyền nuôi con. Do hôm ngày 11/05/2018 tòa gọi em lên và vị chánh án và thư ký bảo em là do em bỏ đi nên giờ không dành được quyền nuôi con, em thấy vô lý vì:

Thứ 1: vì bị chồng đánh và đòi giết nên em phải chạy đi trong đêm và thuê phòng trọ ở để an toàn tính mạng, chứ không phải tự nhiên em bỏ đi không có lý do.

Thứ 2: ngày 31/01/2018 em lên tòa nộp đơn xong rồi về dẫn con đi nhưng chồng không cho và đòi đánh con bé, em sợ ảnh hưởng tới con nên không dám đôi co mà phải chờ tòa giải quyết ly hôn để được quyền nuôi con hợp pháp, tránh trường hợp chồng tìm đánh vì chưa được pháp luật can thiệp.

Thứ 3: trong thời gian ở riêng nhưng em vẫn về trường thăm con thường xuyên. Vì em không rõ về các điều luật nên không nói lại được với chánh án và thư ký. Lệ phí để tòa xuống địa phương xác minh là bao nhiêu. ?

Vì thư ký bảo em phải nộp 1000..000.000 (một triệu đồng) để tòa xuống xác minh mâu thuẫn của hai vợ chồng. ( năm 2015 e được tòa giả quyết ly hôn nhưng không có phần này)nếu không có bằng chứng em có thể ly hôn được không. Vì những lần sau này bị chồng chửi bới đập đánh em không báo công an hay tổ dân phố và cũng không quay video hay chụp hình gì hết. Mà chỉ có xóm làng làm chứng thôi do thư ký tòa nói với em nếu không thu thập được chứng cứ thì em không được ly hôn. Vì em không biết các điều luật nào để áp dụng cho trường hợp của mình để phản biện với tòa, nên xin văn phòng luật sư minh khuê hãy tư vấn giúp em với, để em được ly hôn giành quyền nuôi con ạ?

Em xin chân thành cảm ơn.

Người mẹ phải chứng minh những gì để có thể được nuôi con khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn về quyền nuôi con khi ly hôn, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về quyền đơn phương ly hôn.

Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về quyền đơn phương ly hôn như sau:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Theo quy định trên, khi bạn muốn đơn phương ly hôn cần có căn cứ rằng chồng đã có hành vi bạo lực gia đình thường xuyên làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ thể hiện qua : file ghi âm về sự thừa nhận của chồng bạn về hành vi bạo hành, người làm chứng, biên bản xử phạt hành chính về hành vi bạo hành của chồng bạn, ..

Thứ hai, quyền nuôi con khi ly hôn.

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

.....2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.......

Như vậy, đối với con 5 tuổi Tòa án sẽ xem xét về điều kiện kinh tế vào điều kiện tinh thần của bố và mẹ xem ai có điều kiện tốt hơn thì giao con cho người đó trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con.

- Về điều kiện kinh tế: bạn phải chứng minh mức thu nhập hàng tháng ( thông qua thang bảng lương, hợp đồng lao động,..); tài sản hiện có ( giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ tiết kiệm,... )

- Về điều kiện tinh thần: Thời gian chăm sóc con cái, sự quan tâm chăm sóc con ( ví dụ ngày bạn đi làm 8 tiếng theo giờ hành chính nhưng sáng sớm bạn vẫn có thời gian đưa con đi học và tan làm bạn có thể đón con về, tắm gội cho con, đưa con đi chơi,..) ; phẩm chất đạo đức ( có thể chứng minh quan việc bạn chưa từng có tiền án, tiền sự hay bị xử lý hành chính về những hành vi vi phạm phát luật,..) Đồng thời bạn sẽ chứng minh rằng chồng có hành vi bạo lực gia đình, nếu để bé cho bố chăm sóc sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển của bé.

Thứ ba, lệ phí xác minh mâu thuẫn vợ chồng là bao nhiêu?

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án không có quy định về vấn đề thu lệ phí xác minh mâu thuẫn vợ chồng. Tòa án yêu cầu bạn nộp khoản tiền 1 triệu với lý do là lệ phí xác minh mâu thuẫn vợ chồng là không có căn cứ, bạn có thể yêu cầu được trả lời cụ thể bằng văn bản rằng Tòa căn cứ vào đâu để thu khoản tiền trên.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

5. Thủ tục ly hôn khi mâu thuẫn giữa vợ chồng trầm trọng?

Thưa luật sư, xin hỏi: Vợ chồng tối cưới nhau cuối năm 2016, tới nay tôi thấy chồng mình thường xuyên nói dối vợ để đi chơi bạn bè và có những mối quan hệ không rõ ràng. Khi tôi hỏi thì chồng luôn nói vòng vo và không muốn giải thích.
Trước đây tôi rất yêu và tin tưởng chồng mình nhưng từ khi phát hiện chồng thường xuyên nói dối tôi cảm thấy đau đớn, mất niềm tin vào chồng. Giờ tôi không còn yêu chồng như thủa ban đầu nữa, mâu thuẫn giữ hai vợ chồng ngày càng nhiều không thể tháo gỡ. Tôi luôn muốn chồng thành thật nhưng chồng tôi lại không nghĩ thế. Anh không tạo cho tôi sự tin tưởng. Cuộc sống hôn nhân của tôi rơi vào bế tắc. Tôi và chồng đều muốn giải thoát cho nhau. Tôi muốn ly hôn. Luật sư tư vấn giúp tôi cách viết đơn và thủ tục ly hôn như thế nào. Chúng tôi có 1 đứa con gái chung 10 tháng tuổi?
Tôi muốn nuôi con. Rất mong nhận được sự tư vấn từ phía luật sư. Xin cảm ơn.

Trả lời:

Ly hôn là phương án cuối cùng khi những mâu thuẫn giữa vợ chồng trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng dù bạn đã cố gắng dung hòa, tìm ra hướng giải quyết nhưng không có kết quả. Đến thời điểm hiện tại, muốn giải quyết ly hôn thì bạn cần chuẩn bị hồ sơ bao gồm:

- Đơn xin ly hôn.

- Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.

- Bản sao sổ hộ khẩu.

- Bản sao CMND/Căn cước công dân.

- Bản sao giấy khai sinh của con.

- Bản sao giấy tờ chứng minh quyền sở hữu tài sản (nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản).

Sau đó, nộp hồ sơ về việc xin ly hôn tại Tòa án nhân dân quận/huyện nơi cư trú, làm việc của vợ hoặc chồng để được giải quyết.

Về việc nuôi con khi ly hôn.

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

....3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Theo thông tin bạn cung cấp thì con bạn hiện nay mới 10 tháng tuổi, cho nên theo quy định tại Khỏan 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì bạn sẽ được ưu tiên hơn về việc nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Bạn chỉ không được trực tiếp nuôi con dứơi 36 tháng tuổi trong trường hợp bạn không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con ( ví dụ: ốm đau dài ngày không thể chăm sóc được bản thân và con, đi lao động xuất khẩu,... )

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?