được biết ngay sau đó người này được đưa đi đến Trạm Y Tế phường để khâu vết thương  xong đến ngay Công An Phường tố cáo bị anh X chém với Võ Trường S. Ngay sau đó anh X bị Võ Trường S bắt, đe doạ "Mày cầm dao là cố ý gây thương tích, tại sao mày không chạy ra đấm và đá bà ấy thôi" nên người thân tôi sợ hãi, ngộ nhận, giải thích rằng mình chỉ doạ đối tượng đê hèn, sự việc xảy ra ngoài mong muốn của mình nên được thả sau đó Võ Trường S tiếp tục đòi bắt người vào ban đêm. Võ Trường S cho biết Hoàng Thị L đến tố cáo trong thái vết thương mềm khâu hở, máu chảy liên tục. Sau đó gia đình nhận được yêu cầu của Hoàng thị L là phải thuê người đến bệnh viện nuôi chị ta, bố anh X đến hỏi thăm bác sĩ, y tá của bệnh viện thì được trả lời vết thương đã khô, không có gì nghiêm trọng nên chỉ định phải xuất viện, nhưng chị L tiếp tục nhập viện khác. Bố anh X tiếp tục bị chị L làm nhục khi đến động viên ở những lần tiếp theo, đề nghị chu cấp, hỗ trợ kinh phí. Nguyễn Văn Đ tự xưng bên Công An Thị Xã D triệu tập anh X và bố mẹ anh X với nội dung mờ ám.

Ngày 04/12/2015 Võ Trường S, Nguyễn Văn Đ bắt người thân tôi trái luật, Viện KSND Thị Xã D trả lời không biết thông tin vụ án, xong xác minh với Công An Thị Xã D thì biết đã có quyết định khởi tố, bắt người của lãnh đạo Công An Thị Xã D và phê chuẩn của lãnh đạo Viện KSND Thị Xã D. Nguyễn Văn Đ ngoài ngăn cản toàn bộ quyền của công dân, quyền bào chữa, quyền nhờ người bào chữa thì chỉ thực hiện mớm cung, ép cung "Tại sao sao bị can không cầm cây hay thứ nào khác không có khả năng gây thương tích để đánh Hoàng Thị L mà lại cầm dao chém Hoàng Thị L là cố ý gây thương tích", không ép cung được nạn nhân thì ép cung, tống tiền người thân, "nếu thằng ... không nhận tội thì sẽ bị tạm giam vô thời hạn, công an đã tước đoạt giấy chứng nhận người bào chữa vì không có quyết định gia hạn tạm giam khi đã hết thời hạn tạm giam, bây giờ công an sẽ thu xếp cho người nhà vào thăm để ông bảo nó nhận tội để sớm được ra toà".

Công An Thị Xã D không ra được kết luận điều tra. Tôi đã khiếu nại sự việc đến Toà Án Nhân Dân Thị Xã D thì nhận được trả lời chưa nhận được vụ án, sau khi xem ngày ký bản cáo trạng mới hướng dẫn gặp thẩm phán, xong cũng không giải quyết khiếu nại. Đến nay người thân tôi vẫn bị tước đoạt toàn bộ quyền công dân, giam giữ trái pháp luật. vậy gia đình tôi phải làm gì mong luật sư tư vấn. Trân trọng cảm ơn luật sư!

Câu hỏi  được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009

>> Xem thêm:  Sử dụng máy quay, máy ghi hình khi hỏi cung - một số vấn đề cần bàn luận

- Bộ luật tố tụng hình sự 2003 sửa đổi 2011

Luật tố cáo 2011

- Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình

2. Nội dung phân tích

Về hành vi của chị Hoàng Thị L

Về hành vi của chị L khi làm nhục bố mẹ anh X sẽ bị xử lý tùy thuộc vào mức độ của hành vi, nhẹ thì bị xử phạt hành chính theo Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

Nếu hành vi của chị L xúc phạm tới bố ẹ anh X một cách nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 Gia đình bạn có thể làm đơn tố cáo gửi tới cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết và có những xử phạt thích đáng, đúng pháp luật đối với hành vi của Chị L

Đối với hành vi của anh X

>> Xem thêm:  Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về quyền, Nghĩa vụ của bị can, bị cáo và cơ chế bảo đảm thực hiện

Theo thông tin bạn cung cấp anh X đã gây thương tích cho chị L trong khi nghe thấy bố mẹ mình bị chị L làm nhục trong trạng thái mất bình tĩnh, tinh thần bị phẫn uất. Nếu tỷ lệ thương tích của chị X từ 31% trở lên thì anh X mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tài Điều 105 Bộ luật hình sự:

Điều 105. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 

 1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu  tháng đến  hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác.

Do đó để xác định anh X có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không phải có kết luận của Cơ quan điều tra về tỷ lệ thương tật của chị L, nếu tỷ lệ thương tật dưới 31% thì anh X chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm e, khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 sửa đổi năm 2011 quy định về thẩm quyền và trường hợp tạm giam như sau:

Điều 62. Việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam.

1- Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người:

a) Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp;

b) Chánh án, Phó chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;

c) Thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh hoặc Toà án quân sự cấp quân khu trở lên chủ toạ phiên toà;

d) Trưởng công an, Phó trưởng công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh và cấp quân khu trở lên. Trong trường hợp này lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành.

2- Lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm, họ tên, chức vụ của người ra lệnh; họ tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt. Lệnh bắt phải có chữ ký của người ra lệnh và có đóng dấu.

Người thi hành lệnh phải đọc và giải thích lệnh cho người bị bắt và phải lập biên bản về việc bắt.

Khi tiến hành bắt người, phải có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc đại diện của cơ quan, tổ chức nơi người bị bắt cư trú hoặc làm việc và người láng giềng của người bị bắt chứng kiến.

3- Không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang quy định tại Điều 63 và Điều 64 Bộ luật này.

Điều 64. Việc bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.

1- Đối với người đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt, cũng như người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2- Khi bắt người phạm tội quả tang hoặc người đang bị truy nã thì người nào cũng có quyền tước vũ khí của người bị bắt.

Điều 65. Những việc cần làm ngay sau khi nhận người bị bắt.

1- Sau khi nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt.

2- Đối với người bị truy nã thì sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra phải thông báo ngay cho cơ quan đã ra lệnh truy nã và giải ngay người đó đến trại giam nơi gần nhất.

Căn cứ theo quy định trên, sau khi bắt người cơ quan điều tra phải lấy lời khai trong thời hạn 24h sau đó phải ra quyết định trả tự do hoặc ra quyết định tạm giữ cho người bị bắt. Tuy nhiên theo thông tin bạn cung cấp, Cơ quan Công an không ra quyết định gì là trái với quy định của pháp luật. Như đã phân tích bên trên phải có quyết định của Cơ quan có thẩm quyền xác định chị L bị tỷ lệ thương tật từ 31% trở nên thì anh X mới bị truy cứu trách nhiệm.

Về hành vi mớm cung,dụ cung,ép cung,nhục hình trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là vi phạm pháp luật .

Luật nghiêm cấm những hành động này thể hiện qua Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân:

“Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Việc bắt và giam giữ người phải theo quy định của Bộ luật này.

Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”.

Để bảo vệ cho mình thì bị can,bị cáo có quyền bào chữa hoặc nhờ luật sư bào chữa theo Điều 11 Bộ luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo:

Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa.

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật này”.

Pháp luật nghiêm cấm việc dùng nhục hình, nếu xảy ra việc mớm cung, dụ cung, ép cung, những hành vi này, tuỳ theo mức độ vi phạm, nhẹ là kỷ luật, nặng thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự có các Điều 299: Tội bức cung) để xử lý những người tiến hành tố tụng vượt quá giới hạn pháp luật cho phép trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Điều 299. Tội bức cung

1. Người nào tiến hành điều tra, truy tố,  xét xử mà bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ  nhất định từ một năm đến năm năm.

Trong trường hợp này, gia đình bạn có thể làm đơn tố cáo về những hành vi từ phía cơ quan Công an đã làm sai quy định của pháp luật gửi cho cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo.

Về mẫu đơn tố cáo bạn có thể tham khảo: Mẫu đơn tố cáo  

 

Tải về Mẫu đơn tố cáo

Về thẩm quyền giải quyết tố cáo được Luật Tố cáo 2011 quy định như sau:

Điều 14. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức trong cơ quan khác của Nhà nước

1. Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có thẩm quyền:

a) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp;

b) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong thực việc hiện nhiệm vụ, công vụ của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới.

2. Tổng Kiểm toán Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Kiểm toán trưởng, Phó Kiểm toán trưởng Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực và công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

Kiểm toán trưởng Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành, Kiểm toán Nhà nước khu vực có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

3. Người đứng đầu cơ quan khác của Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp.

4. Cơ quan có thẩm quyền quản lý đối với cán bộ là đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ do mình quản lý.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê