Thế nhưng số tiền mà em cho mẹ là khoảng 350 triệu nhưng bà ấy không đồng ý mà bắt em phải bán nhà và chia nửa số tiền đó ra cho bà.  Vậy theo luật sư thế  là đúng hay sai và em có những quyền gì để giành lại quyền với ngôi nhà của em? Em xin cảm ơn Luật sư.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình của Công ty Luật Minh Khuê. 

>>  Luật sư tư vấn Luật Hôn nhân và gia đình trực tuyến, gọi: 1900.1975

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, đối với việc chấm dứt quan hệ mẹ con:

Điều 70 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định về quyền và nghĩa vụ của con như sau:

Điều 70. Quyền và nghĩa vụ của con

1. Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

2. Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

3. Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc.

Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

4. Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình. Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình.

5. Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.

- Đồng thời, cũng quy định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ:

Điều 71. Nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng

1. Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Điều 72. Nghĩa vụ và quyền giáo dục con

1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập.

Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.

2. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.

3. Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.

Điều 73. Đại diện cho con

1. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.2. Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

3. Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ.

4. Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và theo quy định của Bộ luật dân sự.

Điều 74. Bồi thường thiệt hại do con gây ra

Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự.

 Theo đó, con cái có nghĩa vụ yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình còn cha mẹ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng; giáo dục;  đại diện cho con và bồi thường thiệt hại do con gây ra khi con chưa thành niên hoặc đã mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự. Luật hôn nhân và gia đình cũng không có quy định nào cho phép cha mẹ  có quyền 'từ con" hay chấm dứt quan hệ với con và ngược lại cũng không chấp nhận việc con "từ' cha mẹ.  Do đó, các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản giữa con và cha mẹ vẫn  bình thường.  Vậy nên, có thể trong lúc mâu thuẫn không thể giải quyết khiến bạn và mẹ có những bất đồng và muốn chấm dứt quan hệ mẹ con thì điều này trên phương diện pháp luật hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý. Và việc bạn muốn đuổi mẹ bạn ra khỏi nhà

Tóm lại, pháp luật không cho phép từ con là phù hợp cả về khía cạnh đạo lý lẫn pháp lý, bởi lẽ mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ huyết thống nên không thể phủ nhận. Đã là ruột thịt, máu mủ thì không thể thay đổi

Thứ hai, về vấn đề quyền sở hữu đối với căn nhà:

Do bạn không trình bày rõ về ngôi nhà mình đang ở là tài sản riêng của mình (có nguồn gốc từ số tiền của bạn mua, được thừa kế, tặng cho riêng...) hay của mẹ bạn (do ông bà để lại hoặc có nguồn gốc từ số tiền của mẹ bạn...) cho nên sẽ chia thành hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, Nếu đó là tài sản riêng của bạn ( được chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho...)  thì bạn hoàn toàn có quyền định đoạt đối với ngôi nhà này.

Trường hợp thứ hai, nếu đó là tài sản của mẹ bạn thì bạn không có quyền và lợi ích đối với ngôi nhà, quyền sử dụng và định đoạt hoàn toàn do mẹ bạn quyết định.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hôn nhân