Câu hỏi: Quy định như trên có vi phạm Luật Đấu thầu không ?

2/ Trong số những nhà thầu nộp Hồ sơ dự thầu, có một nhà thầu nộp thư bảo lãnh của ngân hàng (mặc dù HSMT quy định phải nộp bảo đảm bằng tiền mặt). Bên mời thầu đánh giá bảo đảm dự thầu của nhà thầu là không hợp lệ.

Câu hỏi: Đánh giá của Bên mời thầu như vậy là có phù hợp không ? Vì theo luật quy định thì bảo đảm dự thầu được coi là không hợp lệ chỉ trong những trường hợp sau: có giá trị thấp hơn/ không đúng đồng tiền quy định/ thời gian hiệu lực ngắn hơn/ không nộp theo địa chỉ và thời gian quy định trong HSMT/ không đúng tên gói thầu, tên nhà thầu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nguyễn Thanh Duy
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn luật đầu thầu

Luật sư tư vấn luật đất đai, đấu thầu gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào Quý khách hàng, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi gửi đến Công ty chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Luật Đấu thầu 2013

Nghị định số 63/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành mốt số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

2. Nội dung tư vấn:

1/ Theo qui định của pháp luật về đấu thầu, hiện nay pháp luật chỉ điều chỉnh một số vấn đề về bảo đảm dự thầu như: các trường hợp áp dụng bảo đảm dự thầu, mức bảo đảm dự thầu tối đa, thời gian thực hiện bảo đảm dự thầu, các trường hợp không được hoàn trả bảo đảm dự thầu,.... Vấn đề mà bạn đề cập đến là "hình thức" thực hiện bảo đảm dự thầu, tuy nhiên theo Luật Đấu thầu 2013 thì không có đề cập đến khái niệm hình thức bảo đảm dự thầu mà chỉ có quy định về các "biện pháp" bảo đảm dự thầu, cụ thể tại khoản 1 Điều 4 Luật này như sau:

"Bảo đảm dự thầu là việc nhà thầu, nhà đầu tư thực hiện một trong các biện pháp đặt cọc, ký quỹ hoặc nộp thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập theo pháp luật Việt Nam để bảo đảm trách nhiệm dự thầu của nhà thầu, nhà đầu tư trong thời gian xác định theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu."

Mặt khác, theo quy định tại khoản 1 Điều 358 Bộ luật Dân sự 2005: "Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự...."

Như vậy, pháp luật cho phép các bên thỏa thuận về các biện pháp để bảo đảm dự thầu hoặc sẽ do bên mời thầu đưa ra cho phù hợp với nhu cầu, mục đích của họ. Do vậy, việc bên mời thầu quy định biện pháp bảo đảm dự thầu là bằng tiền mặt (chuyển khoản vào tài khoản của Chủ đầu tư) là thuộc quyền hạn của họ và không trái với các qui định của pháp luật.

2/ Về vấn đề như thế nào được coi là hồ sơ dự thầu không hợp lệ: như trên chúng tôi đã phân tích, biện pháp bảo đảm dự thầu là do các bên thỏa thuận hoặc do bên mời thầu đưa ra. Do vậy, nếu bên mời thầu đưa ra các tiêu chuẩn về biện pháp thực hiện bảo đảm dự thầu thì đó sẽ được coi là tiêu chuẩn mà các bên dự thầu phải tuân thủ. Nếu  bên mời thầu quy định hình thức bảo đảm dự thầu là tiền mặt (chuyển khoản vào tài khoản của Chủ đầu tư) thì việc bên dự thầu nộp thư bảo lãnh của ngân hàng nếu không được bên mời thầu đồng ý, chấp thuận thì sẽ bị coi là không hợp lệ. Bên dự thầu có thể điều chỉnh biện pháp bảo đảm dự thầu sao cho phù hợp với yêu cầu của bên mời thầu.

Các trường hợp bảo đảm dự thầu được coi là không hợp lệ mà bạn nêu ra: có giá trị thấp hơn/ không đúng đồng tiền quy định/ thời gian hiệu lực ngắn hơn/ không nộp theo địa chỉ và thời gian quy định trong HSMT/ không đúng tên gói thầu, tên nhà thầu bị coi là không hợp lệ vì trái với các qui định của pháp luật. Tuy nhiên, về hình thức bảo đảm dự thầu, pháp luật lại trao quyền cho bên mời thầu.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Nếu còn nội dung vào vướng mắc vui lòng liên hệ tới email:  Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc gọi điện trực tiếp qua tổng đài 1900.6162 để được hỗ trợ một cách chi tiết và chính xác.

Chúc bạn thành công!

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty luật Minh Khuê