Từ đó gia đình tôi về ở và trong quá trình sử dụng đã xây dựng lại ngôi nhà khác trên nền đất này để ở ổn định đến nay, không ai tranh chấp), kèm theo hồ sơ chuyển nhượng là Giấy xác nhận nêu trên và Đơn xin xác nhận quyền sử dụng đất của ông S. cùng được UBND phường ký xác nhận cụ thể là đất thổ cư vào ngày 25/11/1995. - Căn cứ vào thời điểm xác nhận (25/11/1995) của UBND phường, khi tiếp nhận hồ sơ ban đầu cán bộ tiếp nhận đã bác bỏ, không thừa nhận Giấy xác nhận Ông Bà Nội cho cháu nội và lập bộ hồ sơ theo hướng không có các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013. Do đó khi nhận được thông báo nghĩa vụ tài chính, Tôi được biết trường hợp của tôi phải thực hiện nghĩa vụ tài chính là 100% từ đất nông nghiệp. Cảm thấy trường hợp của mình bị áp dụng thiếu công bằng, Tôi đã gửi Đơn khiếu nại yêu cầu xác định lại nguồn gốc, quá trình sử dụng đất. Sau đó, Văn phòng chức năng cấp Sổ đỏ trả lại hồ sơ, yêu cầu tôi bổ túc các loại giấy tờ liên quan và những rắc rối, vướng mắc phát sinh kể từ đây. - Khi thụ lý hồ sơ lần 2, UBND phường nhận thấy Giấy xác nhận Ông Bà Nội cho cháu nội có đầy đủ tính pháp lý, nên đã làm lại hồ sơ theo hướng lập Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư và xác nhận thửa đất của tôi đã được sử dụng làm đất ở từ rất lâu trước thời điểm 15/10/1993, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng; đồng thời có giải thích cho Tôi rõ: “Sở dĩ trước đây địa phương xác nhận nguồn gốc đất nông nghiệp là do trong bộ hồ sơ thủ tục không có Giấy xác nhận Ông Bà Nội cho cháu nội, nay bổ sung đầy đủ thì địa phương xác nhận theo đúng thực tế nguồn gốc, quá trình sử dụng thửa đất này”. - Đến ngày 04/12/2015, Văn phòng chức năng cấp Sổ đỏ tiếp nhận lại hồ sơ của Tôi với Phiếu hẹn ngày thực hiện nghĩa vụ tài chính là ngày 11/01/2016. Tuy nhiên, khi đã trễ quá ngày hẹn, Tôi đã nhiều lần lui tới Văn phòng chức năng cấp Sổ đỏ, nhưng vẫn không được trả lời rõ ràng vì sao chậm trễ và sau đó có điện thoại yêu cầu Tôi đến nhận hồ sơ về để xác nhận lại nguồn gốc, quá trình sử dụng đất; tuy nhiên Tôi liên hệ UBND phường, thì Chủ tịch UBND phường khẳng định rằng địa phương cơ sở tuy hai thời kỳ khác nhau, Chủ tịch có thay đổi nhưng không thể xác nhận các loại giấy tờ pháp lý với nội dung khác nhau được. Như vậy, hiện nay hồ sơ của Tôi bị treo lơ lửng, không biết có đủ điều kiện để được cấp Sổ đỏ hay không ? Về phía Văn phòng chức năng cấp Sổ đỏ thì cho rằng nội dung xác nhận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của địa phương là không đúng, nên chưa cấp Sổ đỏ (chỉ là nói qua điện thoại). Về phía địa phương thì Chủ tịch UBND phường khẳng định rằng đã xác nhận theo đúng thực tế lịch sử (ý kiến của những người dân sinh sống lâu năm tại khu dân cư) và có căn cứ trên cơ sở các loại giấy tờ có liên quan trong bộ hồ sơ đề nghị cấp Sổ đỏ. Tôi muốn hỏi: 

1. Giấy xác nhận Ông Bà Nội cho cháu nội” có được công nhận là loại Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hay không ?

2. Có được áp dụng theo điểm c, khoản 1 và khoản 2 điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 hay không ? Vì Giấy xác nhận Ông Bà Nội cho cháu nội có đầy đủ tính pháp lý, tuy rằng thời điểm xác nhận của UBND phường là ngày 25/11/1995, nhưng nội dung điểm c, đ và e của Luật không quy định cụ thể trước ngày 15/10/1993. 

Tôi xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật đất đai của Công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

>> Xem thêm:  Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng đất ? Cách cấp lại sổ đỏ ?

Bộ luật Dân sự2005

 Luật Đất đai năm 2013 

Nội dung tư vấn:

1. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho

Về thừa kế, giấy tờ hợp pháp về thừa kế:

Điều 652 Bộ luật Dân sự2005 Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới 2020

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Về tặng cho, thì:

Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;"

Như vậy,  theo thông tin bạn cung cấp, chúng tôi chưa xác định được nội dung là thừa kế hay là tặng cho. Nếu là tặng cho thì đã được chứng thực nên được coi là giấy tờ hợp pháp, còn về thừa kế thì phải chưa đủ dữ kiện để chúng tôi xác định là hợp pháp hay không.

2. Điều kiện áp dụng điểm c, khoản 1 và khoản 2 điều 100 của Luật Đất đai năm 2013 

Như đã phân tích ở trên, nếu để lại là giấy tờ thừa kế thì chưa thể xác định hợp pháp hay không, do đó chưa thể khẳng định được áp dụng hay không. Đối với là giấy tờ tặng cho (bản chất hợp đồng tặng cho) thì được áp dụng điểm c khoản 1 khoản 2 điều 100 Luật đất đai năm 2013.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

>> Xem thêm:  Đính chính lại thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế nào ?

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư đất đai.

>> Xem thêm:  Muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ đỏ thì cần những thủ tục gì ?