1. Bị lừa chuyển tiền vào tài khoản có đòi được?

Xin chào luật sư. Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn như sau: Vì muốn mua một chiếc xe với giá cả hợp lý, tôi đã tìm đến các trang web mua bán xe và tôi đã tìm được chiếc xe như ý muốn của mình với giá cả hợp lý ở trang web muaban.com và liên hệ với người bán tôi được biết đó là xe thanh lý. Tôi đồng ý mua nên người bán có yêu cầu tôi gửi qua tài khoản tên Nguyễn Tấn Hưng số tiền 1 triệu đồng coi như tiền đặt cọc, rồi anh ta lập tức sẽ gửi xe về cho tôi.
Nhưng sau khi gửi tiền anh ta lại không gửi xe về cho tôi mà tiếp tục viện nhiều lý do bắt tôi chuyển thêm tiền . Tôi nghĩ mình đã bị gạt nên quyết định không chuyển nữa và kêu anh ta trả lại nhưng khi nghe tôi đòi lại tiền thì anh ta đã cúp nguồn điện thoại. Vây theo luật sư bây giờ tôi nên làm gì? Và nên trình bày việc này đến cơ quan thẩm quyền nào?
Cảm ơn!

Trả lời:

Như bạn trình bày trên, người bán sau khi nhận được tiền đặt cọc đã cúp nguồn điện thoại và không liên lạc được. Hành vi này có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174. Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Cụ thể:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

....

Trong trường hợp của bạn, giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.000.000 đồng, tuy nhiên nếu người phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 174 nêu trên thì hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trường hợp người phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 174 nêu trên thì người phạm tội có thể bị xử lý hành chính theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ –CP về xử phạt hành chính về an ninh trật tự, an toàn xã hội. Cụ thể:

Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

.....

c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

.....

Để xử lý hành vi trên, bạn có thể trình báo sự việc này tới cơ quan công an địa phương nơi người phạm tội đang cư trú để cơ quan công an tiến hành điều tra và xử lý hành vi theo quy định.

Khi trình báo sự việc, bạn lưu ý cung cấp đầu đủ thông tin của người phạm tội như họ tên, số chứng minh nhân dân, địa chỉ liên hệ, số điện thoại để cơ quan công an có căn cứ xử lý.

>> Luật sư tư vấn trực tuyến, gọi: 1900.6162

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn về mức xử phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mới nhất

2. Tư vấn khi bị lừa đảo để chiếm đoạt tài sản ?

Chào luật sư, Tôi là Nguyễn Văn T, vợ tôi là Trần Thị C. Vào ngày 15/10/2018 vợ chồng tôi có nhờ bà Phạm Thị Lệ H đứng tên tài sản để vay ngân hàng với những điều khoảng sau: Nếu bà H vay được 1 tỷ đồng thì vợ chồng tôi cho bà H mượn 300 triệu, phần còn lại của vợ chồng tôi là 700 triệu và vợ chồng tôi sẽ đóng lãi suất bằng ngân hàng cho bà H trong thời gian vay. Sau khi 2 bên đã đồng ý, tôi có ký hợp đồng chuyển nhượng tài sản cho bà H ngày 27/10/2018. Tài sản của vợ chồng tôi là quyền sử dụng 04 bất động sản với tổng diện tích là 6.050m2. Và bà H có ký cam kết chỉ đứng tên dùm để vay vốn ngân hàng chứ không mua bán hay chuyển nhượng, và hẹn trong 10 ngày sẽ ra công chứng sang tên lại cho vợ chồng tôi. Nhưng rồi từ lúc sang tên bà H cứ hẹn hết lần này tới lần khác mà vẫn chưa làm sang tên. Đến ngày 12/3/2019 tôi phát hiện bà H đã vay ngân hàng được 629 triệu và đã vay hơn 3 tháng mà không hề cho tôi biết. Trong trường hợp này gia đình tôi phải làm gÌ để lấy lại số đất trên.
Kính mong luật sư hỗ trợ!

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp, gia đình bạn đã làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho bà H, với mục đích để nhờ bà H vay vốn và có ký cam kết chỉ đứng tên dùm để vay vốn chứ không chuyển nhượng hay mua bán. Tuy nhiên bà đã không làm đúng như cam kết đã ký mà đã thực hiện vay vốn tại Ngân hàng bằng tài sản của gia đình bạn mà bà đã được sang tên. Ở đây bà H đã có dấu hiệu của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ96.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g)97 (được bãi bỏ)

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b)98 (được bãi bỏ)

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b)99 (được bãi bỏ)

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do đó, để lấy lại số tài sản trên và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, gia đình bàn có thể làm trình báo gửi đến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết, khi nộp đơn tố cáo bạn nộp kèm theo các giấy tờ liên quan đến mảnh đất trên, cam kết ký giữa gia đình bạn và bà H và các tài liệu chứng cứ khác chứng minh việc bà H đã có hành vi lừa đảo. Về mẫu đơn tố cáo, bạn có thể tham khảo dưới đây: Mẫu đơn tố cáo mới nhất

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tại sao người yêu bạn lừa dối bạn, có phải là họ hết yêu ?

3. Tư vấn xử lý hành vi lừa tiền đặt cọc?

Xin chào luật sư. Xin luật sư tư vấn cho em một viêc như sau: em cùng với những người ở quê có tới công ty môi giới xuất khẩu lao động, sau khi được tư vấn mỗi người ký một giấy cam kết và đặt cọc số tiền là 60 triệu đồng, công ty hứa là trong vòng 3 tháng sẽ xuất cảnh, nếu không xuất cảnh được sẻ hoàn trả lại toàn bộ số tiền và hồ sơ.
Nhưng tính đến giờ đã hơn 4 tháng rồi, gia đình tôi nhiều lần ra đề nghị rút mà công ty lần lừa không trả, còn cố ý tránh mặt. Không chỉ có gia đinh tôi có ý rút mà nhiều người ở quê tôi cũng lên tiếng rút vì nhận thấy đường dây có tính mập mờ ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước tiên ta có thể nhận thấy mặt khách quan trong trường hợp của bạn là công ty môi giới xuất khẩu lao động mà bạn đặt cọc tiền đã có được tài sản một cách ngay thẳng bằng hợp đồng đặt cọc tiền để đi xuất khẩu lao động. Tuy nhiên khi nhận được tiền thì công ty này đã không thực hiện nhiệm vụ, không hoàn tiền đặt cọc lại cho bạn cũng như cố ý tránh mặt. Với trường hợp này, công ty này đã vi phạm nghĩa vụ đã giao kết, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể:

Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

.....

Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Với quy định trên và như ban đầu thỏa thuận thì công ty sẽ phải hoàn trả lại số tiền đặt cọc ban đầu lại cho bạn vì đã không thực hiện nghĩa vụ như giao kết, ngoài ra còn phải chịu trách nhiệm trả tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Trường hợp đã quá thời gian trả tiền theo quy định mà công ty này vẫn không hoàn tiền đặt cọc lại cho bạn, bạn có quyền khởi kiện ra trước tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình.

Mặt khác, cần lưu ý trong trường hợp, công ty không trả lại số tiền bạn đã đặt cọc ban đầu, đồng thời có biểu hiện dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bạn; có hành vi bỏ trốn đề chiếm đoạt số tiền đó thì có thể xác định có dấu hiệu tội phạm theo quy định tại Khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cụ thể:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra cấp huyện nơi công ty này đặt trụ sở, cơ quan điều tra sẽ giúp bạn làm rõ trong tình huống này.

Sau quá trình điều tra ban đầu, nếu Cơ quan điều tra xác định hành vi đó đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ làm thủ tục khởi tố vụ án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa đảo qua mạng phải làm thế nào?

4. Bị lừa tiền mua hàng phải làm thế nào ?

Chào luật sư. Tôi có một vấn đề cần tư vấn như sau: Tôi có đặt hằng qua mạng và đã chuyển cho người bán 5,5 triệu đồng. Tuy nhiên, đến hạn giao hàng mà người bán không giao hàng. Giờ tôi liên hệ thì người bán không nghe. Tôi phải làm sao ạ?
Người gửi: H.M

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như bạn đã trình bày, việc bạn chuyển tiền cho người bán là trên cơ sở giao dịch mua bán và đến thời hạn giao hàng, người bán chưa giao hàng tới địa chỉ của bạn, đồng thời khi liên hệ thì không liên lạc được và không có thông báo về lý do giao hàng chậm.

Trườn hợp này, hành vi của người bán có dấu hiệu phạm tội theo quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cụ thể:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn đchiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

....

Để xử lý hành vi trên, bạn có thể làm đơn trình báo với cơ quan công an tại địa phương nơi người bán đang cư trú để cơ quan chức năng tiến hành điều tra, truy tố.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn cách giải quyết để lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi bị lừa thế chấp ?