1. Bị lừa chuyển tiền vào tài khoản có đòi được không ?

Xin chào luật sư . Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn dùm tình huống mà tôi đang gặp vì muốn mua một chiếc xe với giá cả hợp lý .Tôi đã tìm đến các trang web mua bán xe và tôi đã tìm được chiếc xe như ý muốn của mình với giá cả hợp lý ở trang web muaban.com và liên hệ với người bán tôi được biết đó là xe thanh lý. Tôi đồng ý mua nên người bán có yêu cầu tôi gửi qua tài khoản tên Nguyễn Tấn Hưng số tiền 1 triệu đồng coi như tiền đặt cọc, rồi anh ta lập tức sẽ gửi xe về cho tôi.
Nhưng sau khi gửi tiền anh ta lại không gửi xe về cho tôi mà tiếp tục diện nhiều lý do bắt tôi chuyển thêm tiền . Tôi nghĩ mình đã bị gạt nên quyết định không chuyển nữa và kêu anh ta trả lại nhưng khi nghe tôi đòi lại tiền thì anh ta đã cúp nguồn điện thoại. Vây theo luật sư bây giờ tôi nên làm gì? và nên trình bày việc này đến cơ quan thẩm quyền nào?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Trong trường hợp này của bạn, bạn bị lừa chuyển vào tài khoản trong hợp đồng mua bán xe máy thì ban có thể yêu cầu Tòa án giải quyết cho bạn.

Theo Khoản 3 Điều 25 Những tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự năm 2013:

3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự.

Như vậy để đòi lại số tiền bạn đã bị lừa chuyển vào tài khoản ngân hàng, ban hãy viết đơn khởi kiện cộng với bằng chứng việc bạn đã gửi tiền vào tài khoản của người đó như giấy chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng hoặc bạn ghi âm cuộc nói chuyện điện thoại với người đó theo Điều 164 và 165 Văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự và gửi đến Tòa án huyện nơi người đó đang cư trú.

Yêu cầu về hình thức và nội dung đơn khởi kiện theo Điều 164 Văn bản hợp nhất bộ luật tố tụng dân sự

Điều 164 Hình thức ,nội dung đơn khởi kiện

1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;

e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải có người làm chứng và người này phải ký Xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp Xã.

Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp Xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng.

Điều 165 Tài liệu chứng cú kèm theo đơn khởi kiện

Người khởi kiện phải gửi kèm theo đơn khởi kiện tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

2. Nhờ thế chấp tài sản tại Ngân hàng nhưng lại lừa đảo để chiếm đoạt tài sản ?

Chào luật sư, Tôi là Nguyễn Văn T, vợ tôi là Trần Thị C. Vào ngày 15/10/2015 vợ chồng tôi có nhờ bà Phạm Thị Lệ H( nguyên là giám đốc DNTN T NP, cơ sở nhà máy xay lúa, ). đứng tên tài sản để vay ngân hàng với những điều khoảng sau : Nếu bà H vay được 1 tỷ đồng thì vợ chồng tôi cho bà H mượn 300 triệu, phần còn lại của vợ chồng tôi là 700 triệu.
Vợ chồng tôi đóng lãi suất bằng ngân hàng cho bà H trong thời gian 10 năm, sau khi 2 bên đã đồng ý, tôi có ký hợp đồng tự nguyện sang tên tài sản cho bà H ngày 37/10/2015. Tài sản của vợ chồng tôi là 4 tài sản QSD đất tổng cộng là 6.050m2. Và bà H có ký cam kết chỉ đứng tên dùm để vay vốn ngân hàng chớ không mua bán hay chuyển nhượng, và hẹn trong 10 ngày sẽ ra công chứng sang tên lại cho vợ chồng tôi. Nhưng rồi từ lúc sang tên bà H cứ hẹn lần hẹn lựa hết lần này tới lần khác. Ngày 12/3/2016 tôi phát hiện bà H đã vay ngân hàng Đầu tư tỉnh Long An được 629 triệu và đã vay hơn 3 tháng mà không hề cho tôi biết. Quá ức tôi điện cho bà H hỏi cho ra lẽ, trong trường hợp này gia đình tôi phải làm gì? để lấy lại số đất trên.

>> Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp, gia đình bạn đã làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho bà H, với mục đích để nhờ bà H vay vốn và có ký cam kết chỉ đứng tên dùm để vay vốn chứ không chuyển nhượng hay mua bán,Tuy nhiên bà đã không làm đúng như cam kết đã ký mà đã thực hiện vay vốn tại Ngân hàng bằng tài sản của gia đình bạn mà bà đã được sang tên. Ở đây bà H đã có dấu hiệu lừa đảo để chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Do đó, để lấy lại số tài sản trên và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, gia đình bàn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết, khi nộp đơn tố cáo bạn nộp kèm theo các giấy tờ liên quan đến mảnh đất trên, cam kết ký giwuax gia đình bạn và bà H và các tài liệu chứng cứ khác chứng minh việc bà H đã có hành vi lừa đảo. Về mẫu đơn tố cáo, bạn có thể tham khảo dưới đây: Mẫu đơn tố cáo mới nhất

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

3. Hoạt động xuất khẩu lao động bị lừa đảo đòi lại tiền thế nào ?

Kính chào luật sư ! Em có vấn đề muốn được luật sư tư vấn như sau: Năm 2014 em có làm thủ tục đăng ký xuất khẩu lao động hàn quốc theo một đường dây của người quen làm môi giới và đã đóng với số tiền 140 triệu đồng chia làm hai đợt đợt một 70 triệu đợt hai 70 triệu cho người môi giới , đến nay không đi được và báo chí đưa tin công ty này là công ty lừa đảo và công an đang vào cuộc Và người môi giới cũng hoàn lại em số tiền 70 triệu số còn lại hứa tết dương lịch này hoàn trả nốt , nhưng vừa rồi em hỏi thì anh ấy lại nói tết âm lịch trả , em nhận thấy họ chần chừ không muốn trả số tiền còn lại.Vậy em muốn hỏi giờ em phải làm sao để lấy được số tiền còn lại kia .
Hợp đồng thì em ký với công ty kia nhưng tiền em lại chuyển cho người môi giới,nếu giờ em kiện thì kiện bên công ty hay người môi giới . Mong luật sư hồi âm cho em sớm ,hiện nay còn nhiều hoàn cảnh như em mà chưa có biện pháp nào giải quyết được ?
Em xin chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi:1900.0159

Trả lời:

Bạn nói: Năm 2014 em có làm thủ tục đăng ký xuất khẩu lao động hàn quốc theo một đường dây của người quen làm môi giới và đã đóng với số tiền 140 triệu đồng chia làm hai đợt đợt một 70 triệu đợt hai 70 triệu cho người môi giới , đến nay không đi được và báo chí đưa tin công ty này là công ty lừa đảo và công an đang vào cuộc. Và người môi giới cũng hoàn lại em số tiền 70 triệu số còn lại hứa tết dương lịch này hoàn trả nốt , nhưng vừa rồi em hỏi thì anh ấy lại nói tết âm lịch trả , em nhận thấy họ chần chừ không muốn trả số tiền còn lại.Vậy em muốn hỏi giờ em phải làm sao để lấy được số tiền còn lại kia . Hợp đồng thì em ký với công ty kia nhưng tiền em lại chuyển cho người môi giới,nếu giờ em kiện thì kiện bên công ty hay người môi giới .

Trường hợp này để bảo vệ quyền lợi của mình thì bạn có thể kiện ra tòa yêu cầu tòa án giải quyết. Bạn kiện thì bạn sẽ kiện người ký hợp đồng với bạn, kể cả trong trường hợp hợp đồng có điều khoản thỏa thuận là bạn sẽ phải đưa tiền cho người môi giới thì bạn hãy cứ kiện người ký trực tiếp hợp đồng với ban trong trường hợp của ban là công ty kia. Còn về thỏa thuận giữa công ty kia và người môi giới sẽ do tự họ thỏa thuận giả quyết với nhau.

Căn cứ Điều 33, Điều 34, Điều 35 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì đương sự có quyền yêu cầu Tòa án cấp Huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết nếu đương sự không ở nước ngoài, tài sản tranh chấp không ở nước ngoài và không cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài. Nếu đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan ở nước ngoài thì đương sự phải yêu cầu Tòa án cấp Tỉnh nơi bị đơn cư trú, làm việc để khởi kiện.

Hồ sơ khởi kiện bao gồm :

- Đơn khởi kiện : theo đúng mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Giấy tờ hợp đồng và các tài liệu khác.

- Giấy xác nhận của cơ quan nhà nước về địa chỉ cư trú, làm việc của bị đơn;

- Chứng minh nhân dân và Hộ khẩu của người khởi kiện;

- Giấy tờ chứng minh vụ việc vẫn còn thời hiệu khởi kiện (nếu có).

- Tài liệu về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc cử người đại diện doanh nghiệp (bản sao có sao y) nếu là pháp nhân;

- Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các tài liệu nêu trên là văn bản, tài liệu tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

>> Thủ tục thụ lý và thời hạn giải quyết của Tòa án sau khi thụ lý vụ án :

1. Thủ tục thụ lý vụ án

Sau khi nhận hồ sơ khởi kiện nếu vụ việc thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện cho người khởi kiện. Nếu vụ việc không thuộc trường hợp trả lại đơn khởi kiện nhưng Đơn khởi kiện chưa đúng mẫu quy định hoặc không đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 164 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung theo thời hạn ấn định.

Nếu vụ việc đủ điều kiện khởi kiện và đơn khởi kiện đã làm đúng theo quy định thì Tòa án cho người khởi kiện nộp tạm ứng án phí trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo.

Sau khi nhận được biên lai nộp tạm ứng án phí của người khởi kiện thì Tòa án thụ lý vụ án và giải quyết.

2. Thời hạn giải quyết vụ án :

- Thời hạn hòa giải và chuẩn bị xét xử là từ 4-6 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án

- Thời hạn mở phiên tòa : Trong thời hạn tối đa 02 tháng, kể từ ngày đưa vụ án ra xét xử.

- Thời hạn hoãn phiên toà : không quá 30 ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa

Lệ phí:

1/ Án phí dân sự bao gồm án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm, án phí dân sự phúc thẩm.

2/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự không có giá ngạch là 200.000 đồng.

3/ Mức án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đồng thời chung thẩm đối với các vụ án dân sự có giá ngạch được quy định như sau:

Mức án phí

a) từ 4.000.000 đồng trở xuống (Mức án phí: 200.000 đồng)

b) Từ trên 4.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng (Mức án phí:5% giá trị tài sản có tranh chấp)

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng (Mức án phí: 20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng)

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng (Mức án phí:36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng)

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến 4.000.000.000 đồng (Mức án phí: 72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng)

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng (Mức án phí: 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.)

Như vậy trường hợp của bạn là thuộc về mức án phí có giá ngạch và án phí = 5% của 70 triệu= 3,5 triệu

Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH 12

2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

Như vậy nếu bạn thắng kiện,yêu cầu của bạn đực tòa án chấp nhận thì bị đơn là công ty kia sẽ có nghĩa vụ chịu án dân sự sơ thẩm là 3,5 triệu

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo

4. Xử lý thế nào đối với người lừa tiền đặt cọc đi xuất khẩu lao động ?

Xin chào luật sư. Xin luật sư tư vấn cho em một viêc như sau: em cùng với những người ở quê có tới công ty môi giới xuất khẩu lao động, sau khi được tư vấn mổi người ký một giấy cam kết và đặt cọc số tiền là 60 triệu đồng, công ty hứa là trong vòng 3 tháng sẻ xuất cảnh, nếu không xuất cảnh được sẻ hoàn trả lại toàn bộ số tiền và hồ sơ.
Nhưng tính đến giờ đã hơn 4 tháng rồi, gia đình tôi nhiều lần ra đề nghị rút mà công ty lần lừa không trả, còn cố ý tránh mặt. Không chỉ có gia đinh tôi có ý rút mà nhiều người ở quê tôi cũng lên tiếng rút vì nhận thấy đường dây có tính mập mờ ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp pháp luật hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Trước tiên ta có thể nhận thấy mặt khách quan trong trường hợp của bạn là công ty môi giới xuất khẩu lao động mà bạn đặt cọc tiền đã có được tài sản một cách ngay thẳng bằng hợp đồng đặt cọc tiền để đi xuất khẩu lao động. Tuy nhiên khi nhận được tiền thì công ty này đã không thực hiện nhiệm vụ, không hoàn tiền đặt cọc lại cho bạn cũng như cố ý tránh mặt. Với trường hợp này, công ty này đã vi phạm nghĩa vụ đã giao kết, theo quy định tại Điều 302 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11 có quy định như sau:

"1. Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

2. Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được nghĩa vụ dân sự do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền"

Với quy định trên và như ban đầu thỏa thuận thì công ty sẽ phải hoàn trả lại số tiền đặt cọc ban đầu lại cho bạn vì đã không thực hiện nghĩa vụ như giao kết, ngoài ra còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp có thiệt hại xảy ra theo quy định pháp luật hiện hành, nếu công ty này vẫn không hoàn tiền đặt cọc lại cho bạn, bạn có quyền khởi kiện ra trước tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình.

Mặt khác cần lưu ý trong trường hợp, công ty không trả lại số tiền bạn đã đặt cọc ban đầu, đồng thời có biểu hiện dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của bạn; có thủ đoạn bỏ trốn đề chiếm đoạt số tiền đó thì có thể xác định có dấu hiệu tội phạm trong tình huống của bạn.

Điều 140 Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định cụ thể như sau: “ Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”

Vậy trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an nơi công ty này đặt trụ sở, cơ quan sẽ giúp bạn làm rõ trong tình huống này.

Sau quá trình điều tra ban đầu, nếu Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định hành vi đó đã đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì bên Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ làm thủ tục khởi tố vụ án. Nếu có hành vi bỏ trốn Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ phát lệnh truy nã.

Theo khoản 1 điều 11 Pháp lệnh Về tổ chức điều tra hình sự năm 2004 về Thẩm quyền điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra trong Công an nhân dân quy định: “Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chương XXII của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Cơ quan An ninh điều tra trong Công an nhân dân.” . Như vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện là Cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho bạn .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua Tư vấn pháp luật miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa chuyển khoản mà không nhận được hàng đã đặt qua mạng ?

5. Bị lừa tiền mua hàng qua mạng phải làm thế nào ?

Chào luật sư, Tôi bị lừa tiền bán qua mạng. Tôi chuyển tiền nhưng người bán không giao hàng sau hai ngày nhận được tiền. Tôi phải làm sao ạ ?
Người gửi: H.M

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Trong trường hợp này bạn không nói rõ số tiền mà bạn bị lừa là bao nhiêu vì vậy chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Trường hợp 1: Bạn bị lừa trên 2 triệu đồng: Người bán hàng trên mạng internet đã không thực hiện nghĩa vụ của mình sau khi bạn giao tiền, hành vi của người này cấu thành nên tội phạm được quy định tại điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trong trường hợp của bạn, thông qua hoạt động mua bán hàng hóa, người bán hàng đã dùng thủ đoạn gian dối bằng cách là yêu cầu bạn chuyển tiền sau đó sẽ chuyển hàng nhưng sau khi bạn thực hiện nghĩa vụ chuyển tiền thì người đó lại không thực hiện nghĩa vụ chuyển hàng của mình. Hành vi này nhằm chiếm đoạt số tiền của bạn. Hành vi này cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp này, bạn nên viết đơn tố cáo nộp tới cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết. Theo quy định tại các điều 100, 101, 102, 103, 104, 105, 106, 107, 108 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì thủ tục khởi tố được tiến hành như sau: Sau khi nhận được đơn tố cáo của bạn cơ quan điều tra sẽ có trách nhiệm xác minh, điều tra các tài liệu liên quan và quyết định xem có khởi tố hay không. Khi làm đơn tố cáo, bạn có thể nộp kèm theo chứng cứ như chứng từ, giấy chuyển tiền có xác nhận của Ngân hàng để chứng minh đơn tố cáo của mình có căn cứ.

Bạn có thể được trả lại tài sản đã bị chiếm đoạt, điều 42 Bộ luật Hình sự quy định:

"Điều 42. Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi

1. Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

2. Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại."

Trường hợp 2: Bạn bị lừa dưới 2 triệu đồng: Theo quy định tại các điều 255, 256 và 260 Bộ luật Dân sự năm 2005 , bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu đòi lại tài sản:

"Điều 255. Các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu Toà án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếm hữu hợp pháp bằng những biện pháp theo quy định của pháp luật.

Điều 256. Quyền đòi lại tài sản

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật đối với tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu hợp pháp của mình phải trả lại tài sản đó, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Trong trường hợp tài sản đang thuộc sự chiếm hữu của người chiếm hữu ngay tình thì áp dụng Điều 257 và Điều 258 của Bộ luật này.

Điều 260. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại."

Theo quy định tại các điều 161, 164, 165, 166, 167, 168, 169, 170, 171 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 thì bạn sẽ phải nộp đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền. Trong thời hạn 5 ngày làm việc Tòa sẽ xem xét và ra quyết định thụ lý hoặc trả lại đơn khởi kiện cho bạn ( theo điều 167 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011 ).

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua mạng xã hội thì phải làm gì để lấy lại ? Cách làm đơn tố giác lừa đảo