Đến năm 2006 UBND xã đứng lên làm sổ đỏ cho toàn xã. Địa chính xã về đo đạc lại với diện tích 1640m2, lúc này xã yêu cầu báo cho các bác cháu biết việc làm sổ đỏ. Bố cháu thông báo cho các bác (bằng điện thoại) . Có Bác T anh trai bố cháu về đứng lên làm sổ đứng tên bố mẹ cháu, 2 bác còn lại đồng ý. (Nhưng tất cả đều không có văn bản cho tặng). 1 tháng sau UBND xã cấp sổ cho bố mẹ cháu với 400m đất thổ cư và 1240m đất cây lâu năm. Năm 2013 bố cháu bị bệnh và mất. Các bác cháu họp gia đình (có người làm chứng) bảo mẹ con cháu ký vào văn bản đó là tải sản chung của gia đình. Nhưng mẹ con cháu không ký. (cháu bảo bố cháu mới mất để sang năm báo hiếu cho bố cháu xong cháu ký nhưng các bác không chịu. Thế là cháu bảo nếu bác không chịu bác cứ làm theo pháp luật, pháp luật bảo sao cháu nghe vậy). Cháu không hiểu tại sao các bác lại bắt mẹ con cháu ký gấp vậy mà không đợi đến năm sau. Nếu cháu không ký đưa ra pháp luật thì đất đại của ông bà cháu sẽ chia như thế nào. Bố cháu và UBND xã làm sổ đỏ có bị sai về quy trình hay nội dung không ? (gia đình cháu có bị thu hồi sổ không). Cháu rất mong cty tư vấn kỹ cho cháu. Làm thế nào để giữ mảnh đất của bố mẹ cháu nếu đưa ra pháp luật.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật Dân sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự qua tổng đài 24/7: 1900 6162

 

Trả lời:

 

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

I. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự năm 2005

Luật đất đai năm 2003

II. Nội dung phân tích:

Thứ nhất, di sản ông bà của bạn để lại tính đến thời điểm 2006 gồm có: 400m2 đất thổ cư và 365m2 đất trồng lúa. Tại thời điểm bố của bạn làm sổ đỏ vẫn được điều chỉnh bởi luật Đất đai 2003.  Điều 50 khoản 1 luật này quy định:

“Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:

a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;

c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;

d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;

đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;

e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.”

Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006, do ông bà bạn đã mất, địa chính xã về đo đạc lại và yêu cầu báo cho các bác của bạn biết việc làm sổ đỏ vì đây là trường hợp cấp cho hộ gia đình, được xác định là tài sản chung. Việc cấp GCNQSDĐ như vậy là đúng theo quy định.

Thứ hai, tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình được quy định tại Điều 109 BLDS 2005:

“1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.”

Theo quy định trên các bác của bạn có quyền lợi liên quan đến mảnh đất đó. Trước đây, quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình mà các bác bạn cũng là thành viên trong hộ gia đình đó thì theo quy định của Bộ luật Dân sự, các bacs đều có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình là quyền sử dụng đất.

Ông bà bạn đã mất, các bác của bạn bao gồm cả bố của bạn cũng là người thừa kế đối với di sản do ông bà bạn để lại theo pháp luật thì các bác của bạn cũng có quyền đối với mảnh đất đó. Tính đến thời điểm 2013, các bác của bạn không còn quyền khởi kiện chia di sản thừa kế nữa vì đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế (Ðiều 645 BLDS quy định thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế). Có thể thấy vào năm 2006 khi gia đình nhà bạn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thực tế không có chứng cứ chứng minh các thành viên trong gia đình đồng ý cho gia đình bạn diện tích đất đó. Hơn nữa, đối với 400m2 đất ở và 635m2 đất nông nghiệp là di sản của ông bà để lại thì phải có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế để lại di sản đó cho gia đình bạn.

Nếu không có văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế để lại di sản đó cho gia đình bạn, không có văn bản gì ghi nhận về việc các bác đã dồng ý thì diện tích là di sản thừa kế của ông bà bạn thì gia đình nhà bạn chỉ có 1 phần trong đó. Các bác bạn có thể làm đơn khởi kiện về tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất.

Còn phần diện tích nhà bạn tạo lập được, bạn phải chứng minh được về việc tạo lập này, kể cả việc di sản ông bà bạn để lại không có diện tích đất này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn

Bộ phận tư vấn luật đất đai.