Tôi đã gửi đơn đến phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Phú Nhuận và đã được mời 2 bên đến để hòa giải. Đại diện công ty nói do công ty thua lỗ nên chưa trả lương và đã hứa trả lương cho tôi 7.000.000 và trả vào ngày 30/12/2015 nhưng đến ngày mà cty vẫn chưa chuyển lương cho tôi. - Tôi liên hệ với phòng Lao động Thương binh và Xã hội thì được trả lời là chỉ giải quyết hòa giải giữa hai bên, còn việc công ty vẫn chưa trả lương thì phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Phú Nhuận không có trách nhiệm giải quyết và kêu tôi đưa đơn ra Tòa án.

Chúng tôi là người lao động, mà bị công ty nợ lương không trả nay tôi không biết phải làm sao để công ty chi trả khoản lương nợ. Nay xin công ty Minh Khuê hướng dẫn thủ tục giùm cho tôi. .

Chân thành cám ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của công ty Luật Minh Khuê

Trả lời:Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật lao động 2012

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Nghị định 88/2015/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định 95/2013/NĐ-CP

2. Nội dung tư vấn:

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án dân sự - hôn nhân - gia đình

Hiện nay theo quy định của BLLĐ 2012 thì việc trả lương được thực hiện theo nguyên tắc tại Điều 96 Bộ luật lao động:

" Điều 96. Nguyên tắc trả lương

Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn. Trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không được chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương."

Việc công ty không trả lương đúng hạn và nợ lương là đã vi phạm quy định của pháp luật. Hành vi này sẽ bị xử phạt theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 88/2015/NĐ-CP) như sau:

"Điều 13. Vi phạm quy định về tiền lương

3. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Trả lương không đúng hạn; trả lương thấp hơn mức quy định tại thang lương, bảng lương đã gửi cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện; không trả hoặc trả không đủ tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc ban đêm, tiền lương ngừng việc cho người lao động theo quy định của pháp luật; khấu trừ tiền lương của người lao động không đúng quy định của pháp luật; trả lương không đúng quy định cho người lao động khi tạm thời chuyển người lao động sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động, trong thời gian tạm đình chỉ công việc, trong thời gian đình công, những ngày người lao động chưa nghỉ hàng năm theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

Theo quy định trên thì người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải trả lương đúng hạn cho người lao động, trong trường hợp đặc biệt có thể trả chậm nhưng không được chậm quá 01 tháng. Như vậy, theo như bạn trình bày thì công ty đã vi phạm nguyên tắc trả lương cho người lao động, với hành vi này công ty bạn có thể bị xử phạt hành chính theo đúng quy định của pháp luật.

Trong trường hợp của bạn, bạn đã hòa giải tại Phòng Lao động Thương bình và Xã hội nhưng bên công ty bạn vẫn chưa giải quyết thì bạn có thể khởi kiện hành vi vi phạm của công ty lên Tòa án theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Lao động năm 2012.

Điều 200. Cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân

1. Hoà giải viên lao động.

2. Toà án nhân dân.

Việc xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của bạn được thực hiện theo quy định tại Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, theo đó:

Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật này;

c) Tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.

Kết hợp với quy định tại Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, trong trường hợp này, Tòa án nhân dân cấp huyện nơi Công ty của bạn đóng trụ sở chính sẽ là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp cho bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục khởi kiện vụ án kinh tế - kinh doanh thương mại