Vào ngày 17/06/2015: Em hẹn người có chức quyền trên phòng nhân sự nói chuyện. Ông ta nói em là tự ý bỏ việc vì đã không báo từ lúc nghỉ việc . Và sẽ không thanh toán lương cho em. Công ty còn giữ lương của em là 2.506.000.

Vậy cho em hỏi các luật sư: Em có được công ty thanh toán lương hay không??

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: M.L.M

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời: 

Chào quý khách, cảm ơn quý khách đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, câu hỏi của quý khách Luật Minh Khuê xin được giải đáp như sau:

- Bộ luật lao động 2012;

- Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.

- Nghị định 95/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Xét hành vi của quý khách và của người sử dụng lao động

Do quý khách không cung cấp đầy đủ thông tin là quý khách làm việc cho công ty có Hợp đồng lao động hay không và hình thức hợp đồng là theo hình thức nào? Việc quý khách xin vào trễ 30 phút đã xin phép ca trưởng và ca trưởng đã đồng ý, nhưng do ca trưởng vào muộn hơn thời gian mà ca trưởng xin phép. Việc bạn được chấp nhận vào làm trễ 30 phút không đồng nghĩa bạn được phép đi muộn thêm thời gian. Chính vì vậy, ca trưởng đã yêu cầu quý khách làm bù thời gian và quý khách không đồng ý.

Đứng ở góc độ người sử dụng lao động thì họ có quyền xử lý kỷ luật và yêu cầu quý khách làm bù nếu nội quy lao động của công ty có quy định.

Xét hành vi quản lý đuổi việc bạn: Việc quý khách không làm bù thời gian theo yêu cầu của ca trưởng thì có thể là quý khách vi phạm nội quy của công ty và sẽ bị xử lý kỷ luật. Quý khách cần căn cứ vào quy chế và nội dung hợp đồng đã có để biết được hình thức xử lý kỷ luật đối với quý khách. Tuy nhiên, ca trưởng sẽ không được phép đuổi việc bạn (trường hợp này được hiểu là sa thải người lao động), bởi:

Thứ nhất, ca trưởng được hiểu là người quản lý ca quý khách làm việc, không có thẩm quyền ra quyết định sa thải bạn. Thẩm quyền ra quyết định là người ký hợp đồng lao động với bạn.

Thứ hai, lý do sa thải không nằm trong một trong những trường hợp tại Điều 126 Bộ luật lao động. Căn cứ Điều 126 Bộ luật lao động quy định về những trường hợp được áp dụng hình thức sa thải người lao động, bao gồm:

Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.”

Điều 31 Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn như sau:

Điều 31. Kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc

1. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải đối với người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày làm việc cộng dồn trong phạm vi 30 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc hoặc 20 ngày làm việc cộng đồn trong phạm vi 365 ngày kể từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.

2. Người lao động nghỉ việc có lý do chính đáng trong các trường hợp sau:

a) Do thiên tai, hỏa hoạn;

b) Bản thân, bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố vợ, mẹ vợ, bố chồng, mẹ chồng, vợ hoặc chồng, con đẻ, con nuôi hợp pháp bị ốm có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật;

c) Các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.”

Như vậy, có thể thấy trường hợp của quý khách không thuộc một trong các trường hợp tại Điều 126 của Bộ luật lao động. Chính vì vậy, công ty sa thải quý khách là trái quy định của pháp luật. Và quy trình sa thải người lao động của công ty cũng không đúng nguyên tắc và trình tự theo Điều 123 Bộ luật lao động.

2. Bảo vệ quyền lợi của khách hàng

Quý khách không trình bày rõ về việc ca trưởng đã đuổi việc quý khách như thế nào: có văn bản thông báo không? quý khách đã nghỉ việc vào thời gian nào? Nên ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của quý khách. Ví dụ: ca trưởng đuổi quý khách không có văn bản và không có người làm chứng mà quý khách lại nghỉ việc. Sau này, họ có thể lấy lí do là quý khách tự ý nghỉ việc, do đó sẽ bất lợi cho quý khách.

Quý khách không truy cứu đến việc sa thải của công ty nhưng chúng tôi phân tích cụ thể nêu trên để quý khách hiểu và lưu ý. Vấn đề mà quý khách quan tâm là mình có lấy lại được tiền lương hay không khi công ty sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động?

Căn cứ Điều 47 Bộ luật lao động quy định: “2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Như vậy, số tiền 2.506.000 đồng mà công ty giữ lại của quý khách, nếu có phức tạp thì tối đa là 30 ngày công ty phải thanh toán tiền lương trong tháng đó cho quý khách. Quý khách nên làm Đơn đề nghị gửi đến người sử dụng lao động yêu cầu được thanh toán khoản tiền lương này, trường hợp qúy khách làm đơn mà không được giải quyết thì quý khách tiến hành thủ tục khiếu nại hoặc khởi kiện ra Tòa án theo quy định của pháp luật.

Theo Điều 8 Nghị định 95/2013/NĐ-CP, khi người sử dụng lao động vi phạm khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động thì sẽ xử phạt như sau:

Điều 8. Vi phạm quy định về sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động

1. Phạt tiền người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo thời hạn quy định tại Khoản 2 Điều 47 của Bộ luật lao động; không hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 3 Điều 47 của Bộ luật lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;…

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về thắc mắc của quý khách, cảm ơn quý khách đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ