NỘI DUNG TƯ VẤN

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Hiên pháp năm 2013

1. Quy định về tước quyền công dân

Tước một số quyền công dân là hình phạt bổ sung chỉ được áp dụng đối với người phạm tội là công dân Việt Nam phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm khác trong trường hợp luật quy định.

Các quyền công dân bị tước là:

1) Quyển ứng cử, bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước;

2) Quyền làm việc trong các cơ quan nhà nước và quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân.

Thời hạn tước một số quyền công dân là từ 1 năm đến 5 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù (nếu hình phạt chính là hình phạt tù) hoặc từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu người bị kết án được hưởng án treo.

2. Ý nghĩa của việc quy định về quyền công dân:

Trong quá trính xây dựng và hoàn thiện, phát triển một xã hội dân chủ, công bằng văn minh, vì lợi ích quốc gia, lợi ích chung của người dân và giá trị con người, một thời gian qua các quyền con người được ghi nhận trong Hiến pháp, trong luật và các văn bản hướng dẫn, đã thể hiện việc đánh giá cao, đặt gia vấn đề cốt lõi của một xã hội được tạo lên từ những nhân tố con người, yêu tố con người. Nhận thức được vấn đề đó nên quyền con người được tôn trọng, bảo vệ và thực thi thông qua việc ghi nhận nội dung quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và nhân dân Việt Nam về sự quan tâm có tiếp thu, kế thừa những quan điểm, giá trị tiến bộ của truyền thống dân tộc, của thế giới, cùng những kinh nghiệm lập hiến, lập pháp của các nước tiến bộ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nước nhà.
Với phương châm “tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân” đã được thể hiện ngày càng đầy đủ hơn về những nội dung liên quan quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ đã chứng minh Việt Nam luôn quan tâm đến công dân cũng như luôn quan tâm đến việc phát triển con người Việt Nam, phù hợp với cách tiếp cận của Liên hợp quốc trong việc thực hiện quyền con người nhằm xây dựng, kết mối quan hệ đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng phát triển bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Để bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam bên cạnh việc nghiên cứu góp phần làm rõ những quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, thiết nghĩ chúng ta phải hoàn thiện tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ Luật, pháp lệnh đến các văn bản dưới luật theo tinh thần về quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, đồng thời mọi cơ quan nhà nước, tổ chức khi thực hiện mọi hoạt động cần phải tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

3. Bảo vệ quyền công dân theo luật hiến pháp

Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:

“Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.

Cụ thể hoá nội dung trên, Hiến pháp năm 2013 đã quy định các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương II, đó là:

+ Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 20); quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình (Điều 21); quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 22);

+ Quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước (Điều 23);

+ Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 24); quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình (Điều 25);

+ Quyền nam nữ bình đẳng (Điều 26);

+ Quyền bầu cử, ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 27);

+ Quyền khiếu nại, tổ cáo (Điều 30);

và một số quy định cụ thể khác được ghi nhận cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 của nước ta như Quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác...

Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục sử dụng khái niệm “quyền con người” với nội dung chính trị - pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của cá nhân con người.
Nhìn ở góc độ về khái niệm, “quyền con người” không loại trừ và không thay thế được khái niệm “quyền công dân”. Hiến pháp năm 2013 đặc biệt quan tâm đặt vị trí của chương “Quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” -Chương II. Có thể nói đây cũng chính là sự kế thừa “vị trí” của Hiến pháp năm 1946. Tuy nhiên, do nhiệm vụ chính trị của các thời kỳ là khác nhau nên có điều khác biệt, nếu như Hiến pháp năm 1946 đặt nghĩa vụ của công dân lên trước thì Hiến pháp năm 2013 lại đặt quyền của công dân lên trước. Một mặt điều này cho thấy quan điểm tôn trọng quyền con người, quyền công dân, một mặt cho thấy quyền và nghĩa vụ trong tất cả các thời kỳ là có mối quan hệ mật thiết với nhau, có sự kế thừa và phát triển của Hiến pháp sau so với Hiến pháp trước.

Với Chính sách hiện nay cua Nhà nước là luôn chú trọng việc bảo vệ quyền công dân theo Hiến pháp của nước mình, nội dung này chủ yếu được thể hiện qua hoạt động xét xử và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Trong những hoạt động này, vai trò bảo vệ quyền công dân hiến định của tòa án là rất quan trọng. Thống kê của ngành tòa án những năm gần đây cho thấy, khối lượng công việc của tòa án là rất lớn và tỷ lệ công việc được giải quyết hàng năm thường đạt một tỷ lệ cao. Đây là một kết quả tương đối tốt, nhưng vẫn còn xảy ra tình trạng án oan sai, án bị sửa, bị hủy, án không thi hành được hoặc có những vụ án kéo dài nhiều năm chưa giải quyết được. Ngoài ra, tình trạng vi phạm quyền con người trong hoạt động tố tụng (như bức cung, dùng nhục hình, thậm chí dẫn đến tử vong) vẫn còn diễn ra. Mặc dù những vi phạm này chủ yếu diễn ra trong giai đoạn điều tra, song thực tế cho thấy, ngành tòa án chưa thể hiện tính hiệu quả trong việc ngăn ngừa, xử lý những vi phạm đó thông qua hoạt động xét xử.

Nhìn chung,chúng ta rất khó tách bạch cơ chế bảo vệ các quyền con người với cơ chế bảo vệ các quyền công dân, bởi việc bảo vệ cả hai dạng quyền này đều do những thiết chế và sử dụng những quy trình, thủ tục giống nhau. Chính vì vậy, trong mục này và những phần tiếp theo của bài viết, cụm từ “cơ chế bảo vệ các quyền công dân hiến định” có thể hiểu theo nghĩa rộng là “cơ chế bảo vệ các quyền con người, quyền công dân hiến định”.

4. Bảo vệ quyền công dân dưới góc độ luật hình sự

Mọi hành vi xâm phạm quyền công dân đều có thể coi là tội phạm nếu hành vi đó được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể:

+ Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159 BLHS);

+ Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân (Điều 160 BLHS);

+ Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân (Điều 161 BLHS); hoặc tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS)...

Bên cạnh đó cũng có những trường hợp hành vi khách quan được thực hiện có thể có hoặc không có yếu tố lợi dụng chức vụ, quyền hạn như ở tội xâm phạm chỗ ở của người khác (Điều 158 BLHS); tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác (Điều 164 BLHS); tội xâm phạm quyền bình đẳng giới (Điều 165 BLHS) hoặc tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân (Điều 167 BLHS).

Hành vi khách quan của nhóm tội này hầu hết được thực hiện bằng hình thức hành động như tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân trong tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157 BLHS); dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải dời khỏi chỗ ở hợp pháp cùa họ trong tội xâm phạm chỗ ở của người khác; cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền, đưa bằng mạng bưu chính viễn thông, nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật trong tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159 BLHS)... Nhưng cũng có thể hành vi khách quan được thực hiện bằng hình thức không hành động như hành vi của

5. Hình phạt đối với hành vi xâm phạm quyền công dân

Hình phạt của nhóm tội này có mức cao nhất là 12 năm; mức thấp nhất là cảnh cáo. Trừ trường hợp phạm tội được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 157 BLHS; khoản 2 Điều 158 BLHS; khoản 2 Điều 166 BLHS và khoản 2 Điều 167 BLHS, tất cả những trường hợp còn lại trong nhóm này đều là tội phạm ít nghiêm trọng. Hình phạt chính được quy định ở các tội là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Chỉ có một số tội là tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159 BLHS); tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162 BLHS) và tội xâm phạm quyền bình đẳng giới (Điều 165 BLHS) có hình phạt chính được quy định là hình phạt tiền. Nếu phạm các tội được quy định từ Điều 157 đến Điều 167 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công Việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo khoản 3 Điều 159 BLHS, hình phạt bổ sung còn có thể là phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)