1. UBND xã có quyền cưỡng chế thu hồi đất công bị lấn chiếm?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: UBND cấp xã có được ra quyết định cưỡng chế thu hồi đất công bị lấn chiếm không? Nếu có thì quy định như thế nào?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: G.L

>> Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Hiện nay theo quy định của thì thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế thu hồi đất thộc về Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện. Cụ thể được quy định tại Điều 71 Luât đất đai 2013 như sau:

Điều 71. Cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất

...3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất và tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế....

5. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế thu hồi đất:

....d) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất;.....

Như vậy, từ căn cứ trên đây có thể thấy rằng UBND cấp xã không được ra quyết đinh cưỡng chế thu hồi đất mà chỉ được "phối hợp với cơ quan, đơn vị có liên quan tổ chức thực hiện việc giao, niêm yết công khai quyết định cưỡng chế thu hồi đất; tham gia thực hiện cưỡng chế; phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng niêm phong, di chuyển tài sản của người bị cưỡng chế thu hồi đất".

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền thu hồi đất ? Hướng dẫn chính sách đền bù khi bị thu hồi đất đai ?

2. Mức bồi thường tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất?

Chào luật sư! Gia đình tôi đang có một vài vướng mắc về luật đất đai như sau. Gia đình bố tôi gồm 5 người: 3 trai và 2 gái. Bác trai trưởng đã mất. Trước khi ông nội tôi mất, thì có cho bác gái 1 mảnh đất và một bác gái lớn khác mảnh đất 100m2, 3 người con trai còn lại cũng ở trên mảnh đất đó, đã xây nhà và sử dụng được hơn 20 năm. Ngoài ra, bố tôi và chú tôi cũng được cho thêm mỗi người 50m2 ở cạnh mảnh đất 100m2 kia.
Thời gian vừa qua, theo chính sách của nhà nước làm đường mới, có thu hồi đất của 2 bác gái và 1 phần mảnh đất 50m2 của bố tôi và chú tôi. 2 bác gái, 1 người còn hơn 55m2, người có 100m2 thì còn hơn 10m2. Đất nhà bác tôi chưa có sổ đỏ, vậy 2 bác gái tôi được bồi thường tái định cư là đúng hay sai?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn về bồi thường tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất?

Luật sư tư vấn Luật đất đai trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật Đất đai 2013 quy định:

Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp......

Căn cứ theo quy định trên, đất nhà bác bạn là đất ở được thừa kế từ Ông bạn, do đó đủ điều kiện để được cấp GCNQSDĐ và sẽ được bồi thường khi Nhà nước thu hồi.

Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định như sau:

Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia đình.

3. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này mà không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc bằng nhà ở tái định cư thi được Nhà nước bồi thường bằng tiền.

4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.

Theo quy định trên, việc bác bạn bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở mà nhà bác bạn không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư.

Trường hợp bác bạn bị thu hồi đất mà phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở mà nhà bác bạn còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

>> Xem thêm:  Thời hạn của loại đất quy định trong bảng giá đất ? Quy định về mua bán các loại đất

3. Thủ tục thu hồi đất canh tác đã cho mượn?

Kính chào các Quý luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Năm 1995 nhà chị hàng xóm có mượn 1 mảnh đất khoảng 100 m2 của nhà tôi để canh tác ngắn ngày.
Bây giờ tôi muốn lấy lại mảnh đất đó có được không? Mảnh đất này chưa có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhưng tôi có thể chứng minh rằng mảnh đất đó trước năm 1995 là của tôi. Nếu được thì tôi phải làm thủ tục như thế nào?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!
Người gửi: Hieu Phung

Trả lời:

Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai 2013 quy định như sau:

"....5. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định vào mục đích thuộc nhóm đất nông nghiệp từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp thì được công nhận quyền sử dụng đất như sau:

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp quy định tại Điều 129 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp còn lại (nếu có) phải chuyển sang thuê đất của Nhà nước;

b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo hình thức thuê đất của Nhà nước đối với diện tích đất đang sử dụng; thời hạn thuê đất được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 126 và Khoản 4 Điều 210 của Luật Đất đai;..."

Ngoài ra, căn cứ để xác định việc sử dụng đất ổn định được quy định tại Điều 21 Nghị định này như sau:

"1. Sử dụng đất ổn định là việc sử dụng đất liên tục vào một mục đích chính nhất định kể từ thời điểm bắt đầu sử dụng đất vào mục đích đó đến thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc đến thời điểm quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận).

2. Thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định căn cứ vào thời gian và nội dung có liên quan đến mục đích sử dụng đất ghi trên một trong các giấy tờ sau đây:

a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất;

b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất;

c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất;

d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất;

đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất;

e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký;

g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất;

h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan;

i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ;

k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký.

3. Trường hợp thời điểm sử dụng đất thể hiện trên các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này có sự không thống nhất thì thời điểm bắt đầu sử dụng đất ổn định được xác định theo giấy tờ có ghi ngày tháng năm sử dụng đất sớm nhất.

4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất."

Bạn có thể tham khảo các quy định nêu trên để đối chiếu với trường hợp của mình xem chị hàng xóm kia có đủ các giấy tờ nêu trên không. Nếu người đó có đầy đủ các giấy tờ này thì bạn không có quyền kiện để đòi lại đất. Và ngược lại, nếu người đó không có đủ các giấy tờ đã nêu và bạn có đủ căn cứ để chứng minh mảnh đất thuộc sở hữa của mình thì bạn có thể làm đơn gửi đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi mảnh đất tọa lạc để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích cho mình.

>> Xem thêm:  Tư vấn cách tính thuế xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật

4. Tư vấn chính sách đền bù khi nhà nước thu hồi đất?

Thu hồi đất và chính sách đền bù khi nhà nước thu hồi đất luôn là một trong những vấn đề được người dân đặc biệt quan tâm trong thời gian qua. Luật Minh Khuê tư vấn và giải đáp cụ thể một số trường hợp vướng mắc của người dân trong lĩnh vực trên:

Trả lời:

Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng được quy định tại Điều 75 Luật đất đai năm 2013 như sau:

" Điều 75. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

2. Cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

3. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

4. Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất đã nộp, tiền nhận chuyển nhượng đã trả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê và có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp.

6. Tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, có Giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp."

Thưa luật sư, Cháu muốn được luật sư tư vấn về việc đền bù của xã khi xã thu hồi đất ở của công nhân: Bố mẹ cháu và những hộ dân ở đây khi làm việc ở công ty đã mua nhà tập thể của công ty để ở. Thưa Luật sư mua nhà ở đây là chỉ mua phần trên thôi, không có sổ đỏ ạ. Nhà cháu mua nhà ở đây cũng được khoảng hơn 20 năm rồi ạ. Nhưng giờ xã đã đề nghị tỉnh thu hồi đất của công ty. Đất này là ngày trước tỉnh cấp cho công ty cháu từ năm 1975. Và công ty đã trả lại cho tỉnh vậy theo luật sư nhà cháu và những hộ ở đây có được đền bù gì không ạ? Vì công nhân ở đây hiện tại không có nhà ở. Công ty của bố mẹ cháu làm bên nông nghiệp.

=> Phần nhà ở mà gia đình bạn cũng như những người dân đang sử dụng là tài sản trên đất thuộc sở hữu của công ty. Theo quy định tại Điều 75 Luật đất đai năm 2013 như trên thì đối tượng được bồi thường khi thu hồi đất là Công ty bạn. Việc bồi thường đối với nhà được thực hiện theo quy định tại Điều 88 Luật đất đai như sau:

" Điều 88. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường.
2. Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại."

Nhà ở tập thể này do công ty xây dựng tuy nhiên bạn đã thực hiện mua nhà tập thể. Bạn cũng không đề cập đến việc mua bán nhà này có thông qua hợp đồng hay không. Vì vậy, bạn cần xác nhận về chứng nhận sở hữu nhà ở theo quy định khoản 1 điều 31 Nghị định 43/2014/NĐ-CP như sau:

" Điều 31. Chứng nhận quyền sở hữu nhà ở

Chủ sở hữu nhà ở thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở và có giấy tờ chứng minh việc tạo lập hợp pháp về nhà ở thì được chứng nhận quyền sở hữu theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân trong nước phải có một trong các loại giấy tờ sau:

a) Giấy phép xây dựng nhà ở đối với trường hợp phải xin giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Trường hợp nhà ở đã xây dựng không đúng với giấy phép xây dựng được cấp thì phải có ý kiến bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng xác nhận diện tích xây dựng không đúng giấy phép không ảnh hưởng đến an toàn công trình và nay phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;

b) Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước theo quy định tại Nghị định số ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở hoặc giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở thuộc sở hữu nhà nước từ trước ngày 05 tháng 7 năm 1994;

c) Giấy tờ về giao hoặc tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết;....

Trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 thì phải có văn bản về giao dịch đó theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Trường hợp nhà ở do mua của doanh nghiệp đầu tư xây dựng để bán thì phải có hợp đồng mua bán nhà ở do hai bên ký kết;

"...e) Bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân hoặc giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết được quyền sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;

g) Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong những giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c, d, đ và e Khoản này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác thì phải có một trong các giấy tờ về mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 có chữ ký của các bên có liên quan và phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; trường hợp nhà ở do mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2006 mà không có giấy tờ về việc đã mua bán, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có chữ ký của các bên có liên quan thì phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận về thời điểm mua, nhận tặng cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở đó.

Trường hợp người đề nghị chứng nhận quyền sở hữu nhà ở có một trong những giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c, d, đ và e Khoản này mà hiện trạng nhà ở không phù hợp với giấy tờ đó thì phần nhà ở không phù hợp với giấy tờ phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận như quy định tại Điểm h Khoản này;

h) Trường hợp cá nhân trong nước không có một trong những giấy tờ quy định tại các Điểm a, b, c, d, đ và e Khoản này thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở đã hoàn thành xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006, được xây dựng trước khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc phải phù hợp quy hoạch đối với trường hợp xây dựng sau khi có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn theo quy định của pháp luật. Trường hợp nhà ở hoàn thành xây dựng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 trở về sau thì phải có giấy tờ xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về nhà ở không thuộc trường hợp phải xin giấy phép xây dựng và đáp ứng điều kiện về quy hoạch như trường hợp nhà ở xây dựng trước ngày 01 tháng 7 năm 2006; trường hợp nhà ở thuộc đối tượng phải xin phép xây dựng mà không xin phép thì phải có giấy tờ của cơ quan quản lý về xây dựng cấp huyện chấp thuận cho tồn tại nhà ở đó."

Như vậy, việc có được bồi thường thiệt hại hay không phụ thuộc vào việc bạn có giấy tờ về việc sở hữu nhà ở. Nếu không đủ điều kiện được nhà nước bồi thường những hộ dân ở đây có thể làm việc trực tiếp với công ty để thỏa thuận.

Thưa luật sư, Năm 1995 ông A được nhà nước giao 300 m vuông đất. Năm 1996 ông A bán cho ông B 100m vuông đất bằng giấy tay. Năm 1998 cả 2 ông đều xây nhà . Năm 2014 do nhu cầu xây dựng công trình quân sự nhà nước tiến hành thu hồi 300 m vuông đất ở trên và thông báo bố trí cho ông A 1 suất tái định cư 100 m vuông . Vậy việc thu hồi đất trên là đúng hay sai và tại sao ? ông A và B ai sẽ nhận được tiền bồi thường ? Vì sao?. Việc bố trí 1 lô tái định cư là đúng hay sai ? Vì sao? Nếu có việc tranh chấp giữa ông A và B về lô đất tái định cư sẽ giải quyết như thế nào ?

=> Thứ nhất, về điều kiện được bồi thường

Theo quy định tại Điều 75 Luật đất đai 2013 nêu trên việc thu hồi đất do nhu cầu xây dựng công trình quân sự là hoàn toàn đúng quy định pháp luật. Đối tượng được nhận bồi thường là chủ sở hữu phần diện tích đất bị thu hồi. Việc ông A hay ông B được nhận bồi thường phụ thuộc vào những căn cứ chứng minh chủ sở hữu. Tuy nhiên, Ông B sử dụng đất ổn định lâu dài từ năm 1998 vì vậy cần xét theo quy định tại điều 101 Luật đất đai như sau:

" Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.
2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

Như vậy, nếu Ông B đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Ông B là chủ thể được bồi thường.

Thứ hai, Về việc hỗ trợ tái định cư

Việc hỗ trợ tái định cư được áp dụng đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

Thứ ba, Về tranh chấp đất đai giữa Ông A và B thì sẽ được giải quyết theo quy định tại Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013 như sau:

" Điều 202. Hòa giải tranh chấp đất đai
1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.
2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.
4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.
5. Đối với trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau; gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định công nhận việc thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất."


" Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;
2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:
a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;
b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;
3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:
a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;
4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành."

Chào Luật sư! Tôi đang công tác tại công ty Nhiệt điện. Trong gia đình tôi có mẹ và 2 chị em tôi(bố tôi đã mất), thời gian gần đây khu vực quê tôi xảy ra tình trạng thu hồi đất xây dựng. Hoàn cảnh gia đình tôi thì cả 2 chị em tôi đều vào Miền nam làm ăn, không có ở nhà. Do đó mọi việc thu hồi, đền bù đất ruộng và đất giãn dân đều do mẹ tôi giải quyết. Nay tôi muốn nhờ quý Luật sư tư vấn giúp tôi về luật quy định trong trường hợp này, mẹ tôi có thể hoàn toàn thay mặt gia đình thực hiện các công việc trên đúng/ không? Và ngoài ra, căn nhà đang ở thì mẹ tôi có quyền bán/thế chấp hay không (mà không cần 2 chị em tôi)? Năm nay mẹ tôi đã 60t, nhưng trong gia đình không thống nhất giải quyết vấn đề này được, rất mong sự tư vấn hỗ trợ của Qúy Luật sư. Xin trân trọng cảm ơn!

=> Trường hợp này, bạn cần xác định được chủ sở hữu căn nhà là ai. Có thể dự trù 3 trường hợp như sau:

TH1: Đây là tài sản chung của hộ gia đình

" Điều 109. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý."

Như vậy, việc định đoạt tài sản chung của hộ gia đình cần được sự đồng ý của tất cả các thành viên trong gia đình có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần tài sản thuộc sở hữu của bố chị được xác nhận là di sản thừa kế. Việc định đoạt với tài sản này phải được sự đồng ý của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm mẹ và hai chị em chị. Mẹ chị chỉ được tự mình thực hiện quyền sở hữu khi nhận được sự ủy quyền của những thành viên còn lại

TH2: Tài sản này là tài sản chung của bố mẹ chị

Mẹ chị chỉ được sở hữu và có quyền định đoạt với một nửa tài sản này. Một phần hai tài sản này là di sản thừa kế. Việc định đoạt với 1/2 tài sản này phải được sự đồng ý của các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm mẹ và hai chị em chị. Mẹ chị chỉ được tự mình thực hiện quyền sở hữu khi nhận được sự ủy quyền của những thành viên còn lại.

TH3:Tài sản này là tài sản riêng của mẹ chị

Mẹ chị hoàn toàn có quyền tự định đoạt với tài sản này mà không cần được sự đồng ý của các con

Thưa luật sư, Tháng 1/2016, UBND huyện tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất đối với gia đình tôi, sau đó thông báo cho gia đình tôi phải nộp toàn bộ chi phí chặt hạ cây cối, tháo dỡ nhà cửa và di chuyển tài sản. Theo quy định hiện hành, gia đình tôi có phải chịu thanh toán chi phí này cho lực lượng thực hiện cưỡng chế không? xin cám ơn!

=> Theo quy định tại Điều 90, Điều 91 Luật đất đai năm 2013 thì việc hỗ trợ di chuyển cây trồng và tài sản được quy định như sau:

" Điều 90. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

....1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà gây thiệt hại đối với cây trồng thì việc bồi thường thực hiện theo quy định sau đây:...

c) Đối với cây trồng chưa thu hoạch nhưng có thể di chuyển đến địa điểm khác thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại thực tế do phải di chuyển, phải trồng lại;...."

" Điều 91. Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất
1. Khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển tài sản thì được Nhà nước bồi thường chi phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt; trường hợp phải di chuyển hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất còn được bồi thường đối với thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt.
2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức bồi thường tại khoản 1 Điều này."

Như vậy, bạn không phải chi trả chi phí chặt hạ cây cối, tháo dỡ nhà cửa và di chuyển tài sản mà còn được nhận bồi thường nếu đủ điều kiện nêu trên

Thưa luật sư, Tôi ở tại hiện tân thành tỉnh bà rịa vũng tàu ba vợ tôi cho vợ tôi mảnh đất 7m x 35m ( đất nông nghiệp) vợ tôi có cất 1 cái nhà tạm để ở. Vào năm 2010 tôi xây thành căn nhà cấp 4 để ở. Năm 2014 UBND huyện tân thành thu hồi đất để mở rộng đường giao thông. Vậy căn nhà tôi xây trên đất đó có được đền bù hay không? và làm như thế nào để được đền bù ?

=> Việc xây dựng nhà trên đất nông nghiệp là vi phạm pháp luật đất đai. Theo quy định của Khoản 1 Điều 92 Luật đất đai 2013 các trường hợp sau sẽ không được bồi thường về tài sản gắn liền với đất:

1. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm b, d khoản 1 Điều 65 của Luật này.

2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng.

Điều 64 luật đất đai quy định như sau:

1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;
...."

Như vậy, gia đình bạn chỉ được bồi thường về đất nếu đảm bảo quy định tại Điều 75 Luật đất đai năm 2013 nêu trên.

>> Xem thêm:  Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi gây thiệt hại về tinh thần thì sẽ phải bồi thường ra sao ?

5. Mức đền bù khi nhà nước thu hồi đất?

Chào Luật sư, Khi Nhà nước chưa làm con đường tỉnh lộ 206 và con mương sinh thái thì gia đình tôi có 03 đám ruộng: 1 đám tên là “Nà Gie” tờ bản đồ số 66 số thửa 33 có diện tích là 2400m2; 1 đám tên là “Nà Giốc” đám này chia làm hai đám nhỏ 1 đám có diện tích 693m2, 1 đám có diện tích 440,2m2.
Sau khi Nhà nước làm com đường tỉnh lộ 206 và con mương sinh thái thì cả hai lần gia đình tôi đã bị thu hồi là: + Đám “Nà gie” có diện tích 2400m2 thì lấy 1300m2 + Đám 693m2 thì lấy hết. + Đám 440,2m2 thì lấy 213m2 Tổng cả 2 lần Nhà nước thu hồi của gia đình tôi là: 1300m2 + 693m2+ 213m2 =2206m2. Giá trị bồi thường lần làm con mương sinh thái là 44.000đ/m2, lần làm đường 206 thì tôi không nắm rõ nhưng nói chung là rất thấp. Lần này Ban giải phóng mặt bằng lại thu hồi của gia đình tôi lần thứ 3 để xây dựng “Nhà điều hành điện lực huyện Trùng Khánh”, lần này là 916m2 ở đám “Nà Gie” tờ bản đồ số 66 số thửa 33 mà cả hai lần thu hồi trước còn sót lại là 1100m2. Sau khi có con đường tỉnh lộ 206 đi qua giá đất ở đây đã hình thành đất mặt đường (Đất nhà ở) ở đây nhiều gia đình không mất mét đất nào đương nhiên được hưởng giá ưu đãi. Mọi người xây dựng nhà ở, nhà hàng, khách sạn…thậm chí còn mua bán, chuyển nhượng với giá giao động từ 4 triệu đến 4,5 triệu đồng/m2 đất Vậy nếu theo giá thị trường lần thứ ba này Ban giải phóng mặt bằng đã thu hồi của gia đình tôi 916m2 trong đó có 40m mặt đường nếu mỗi nền nhà là 5m mặt đường thì 40m :5 =8 nền, trung bình mỗi nền nhà có giá là: 500.000.000Đ (Năm trăm triệu đồng) thì 8 nền x 500.000.000đ = 4 tỷ.
Trong khi đó Ban giải phóng mặt bằng bồi thường cho gia đình tôi là 63.000đ/m2 (Sáu mươi ba nghìn đồng) và tổng số tiền mà gia đình tôi nhận được là: 240.183.544đ (Hai trăm bốn mươi triệu một trăm tám mươi ba nghìn năm trăm bốn mươi bốn đồng). Gia đình tôi vì sợ ảnh hưởng đến người thân (là cán bộ nhà nước) nên đã ký vào bản đồng ý cho xây dựng trên mảnh đất của gia đình, Nay xét thấy giá đất được bồi thường quá thấp so với giá thị trường. Vậy xin luật sư cho ý kiến và giúp đỡ ?
Xin trân trọng cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Đối với việc bồi thường khi nhà nước thu hồi đất, mức bồi thường sẽ căn cứ vào loại đất (đất có mục đích sử dụng là đất ở, đất phi nông nghiệp hay đất nông nghiệp ...) và giá đất áp dụng đối với loại đất đó do UBND cấp tỉnh nơi có đất quyết định trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm.

Nguyên tắc bồi thường khi thu hồi đất được quy định tại Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 :

Điều 74. Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường.

2. Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất.

3. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật.

Như vậy khi nhà nước thực hiện thu hồi đất nông nghiệp của bạn, bạn sẽ được bồi thường theo các nguyên tắc kể trên. Để xác định được mức giá bồi thường cụ thể bạn phải căn cứ vào bảng giá đất và khung giá đất của địa phương bạn. Đối chiếu với mức giá đất bồi thường cho gia đình bạn, bạn có thể xác định xem mức bồi thường đã nhận có hợp lý hay không. Nếu không hợp lý bạn có thể làm đơn khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền theo thủ tục tại Luật khiếu nại 2011.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email L[email protected] hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật đất đai - Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền sử dụng đất ở khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?