VAI TRÒ CỦA PHÁN QUYẾT TRONG VIỆC HÌNH THÀNH QUY PHẠM LUẬT QUỐC TẾ.

 

Theo Điểm b khoản 1 Điều 38 Quy chế Tòa án quốc tế qui định những yếu tố để được công nhận là tập quán quốc tế là sự áp dụng thường xuyên của quốc gia và được thừa nhận là quy phạm pháp lý bắt buộc (opinio juris). Theo đó, nội dung của Điều 38 Tòa án quốc tế hướng dẫn tập quán quốc tế đã được thừa nhận là qui phạm pháp luật phải được các quốc gia thừa nhận và áp dụng thường xuyên, mà sự áp dụng thường xuyên này khó có thể chứng minh rõ ràng.

Giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan tài phán quốc tế cũng là một trong các biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế. Hiện nay, có các cơ quan tài phán quốc tế giải quyết các tranh chấp trên biển được ghi nhận để trong Hiến chương LHQ: Tòa án quốc tế, Trọng tài quốc tế và cơ quan tài phán được hình thành trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế.

Những quyết định của tòa án, trọng tài cũng như những học thuyết của các chuyên gia lớn không phải là các nguồn chinshc ủa luật quốc tế. chúng chỉ là những giải pháp của Tòa án, trọng tài, của các cơ quan tài phán quốc tế khác về những vấn đề pháp luật cụ thể. Các quyết định tài phán này chỉ có giá trị res inter alios acta (chỉ có giá trị đối với bên cam kết), theo Điều 59 Quy chế của Tòa: “Quyết định của Tòa có giá trị bắt buộc  chỉ đối với các bên tham gia vụ án và chỉ đối với các vụ án cụ thể đó”

Cơ quan tài phán quốc tế sẽ xem xét và lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ việc. Tuy nhiên, quy phạm pháp luật nhiều khi mang tính nguyên tắc, chung chung, chưa thể áp dụng vào một trường hợp cụ thể để giải quyết vụ việc. Khi đó cơ quan tài phán sẽ phải xem xét lựa chọn quy phạm nào để áp dụng mà còn phải giải thích ý nghĩa của các quy phạm đó. Sự giải thích của cơ quan tài phán thường được viện dẫn áp dụng và giải quyết các vụ việc tương tự sau này và dần được thừa nhận rộng rãi, trở thành các quy phạm pháp luật quốc tế.

Trong quá trình giải quyết các tranh chấp, các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế thường được căn cứ vào những án lệ đã có từ trước để xác định những quy tắc. Vì vậy, chúng là nguồn bổ trợ để xác định cá quy phạm pháp luật. Các cơ quan tài phán quốc tế đều viện dẫn sử dụng những kết luận của các vụ án trước trong việc xem xét tìm giải pháp giải quyết các tranh chấp hiện tại. Các kết luân của cơ quan tài phán quốc tế được xây dựng theo một thể thống nhất, một logic luật thống nhất. Điều này được chứng minh bởi từ thực tiễn của cả Pháp viện thường trực quốc tế và Tòa án công lý quốc tế, thường viện dẫn các quyêt định của mình. Theo vậy không phải các giải quyết tranh chấp của cơ quan tài phán quốc tế là rập khuôn một cách sao rỗng về hình thức, trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án còn đưa ra nhiều định nghĩa và nguyên tắc mới.  Các nguyên tắc này trở thành cơ sở của áp dụng tập quán và các điều ước quốc tế và nó có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hình thành quy phạm pháp luật quốc tế.

Một trong những ví dụ điển hình, chứng minh cho vai trò của cơ quan tài phán quốc tế trong việc hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế là vụ Ngư trường Nauy (Anh kiện Nauy)

  1. Sự kiện

Nửa đầu thế kỷ XX, tranh chấp giữa anh và Nauy về quyền đánh cá trong khu vực biển ngoài khơi Nauy, phía Bắc của vòng cung bắc cực, ngày càng trở nên trầm trọng. Các tàu đánh cá của Anh kéo rất đông đến khu vực này và được trang bị ngày càng tốt hơn. Nauy cho rằng họ có quyền bảo tồn nghề các cho ngư dân của họ trong các khu vực này, khi Vương quốc Anh cho rằng các khu vực này là biển cả và ngư dân của mọi quốc gia có quyền đnáh bắt cá, không có bất kỳ một quyền bảo tồn riêng biệt nghề các cho ngư dân của bất kỳ nước nào. Bỏ qua sự phản đối của Anh, Chính phủ Nauy đã quyết định hoạch định khu vực biển đó bằng Nghị định ngày 12-07-1935. Điều này dẫn tới việc Vương quốc Anh đặt vấn đề nhờ pháp viện thường trực quốc tế xem xét. Ngày 28-9-1948, Vương quốc Anh đơn phương thỉnh kiện Tòa án công lý xem xét đường hoạch định khu vực đánh cá của Nauy ở phía Bắc kinh tuyến 66*22’48” được quy định trong Nghị định ngày 12-7-1935 có phù hợp với luật quốc tế hay không. Vương quốc Anh cũng yêu cầu Tòa tuyên bố rằng Nauy phải bồi thường mọi thiệt hại do việc họ bắt giữ  các tàu đánh cá của Anh sau ngày 16-9-1948 tại các vùng biển được coi là biển cả.

2. Phán quyết ngày 18-12-1951

>> Xem thêm:  Giao hàng kém chất lượng có thể giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại không ?

Anh giữ quan điểm rằng độ dài của đường cơ sở thẳng không nên vượt quá 10 hải lý. Tuy vậy, Tòa tuyên bố “quy tắc 10 hải lý không phải là quy tắc chung của luật quốc tế.”. Không có điểm nào trong Điều 7 cũng như các điều khác của Công ước Luật Biển năm 1982 đề cập đến vấn đề này.

sĐường cơ sở thẳng có thể coi là chấp nhận được nếu nó đáp ứng được điều kiện đề ra tại Điều 7, khoản 3 của Công ước Luật Biển năm 1982. Theo đó, đường cơ sở phải đi theo hướng chung của bờ biển và vùng nước phía bên trong đường cơ sở phải gắn với đất liền đủ đến mức có thể đặt dưới chế độ nội thủy. Quy định này được phát triển từ Phán quyết trong vụ Ngư trường Anh - Na Uy. Góc lệch tối đa 20o giữa đoạn đường cơ sở thẳng và hướng của bờ biển được coi là một quy tắc phổ biến

Trong Phán quyết đó, Tòa chấp nhận việc sử dụng rìa ngoài tại ngấn nước thủy triều thấp của các đá làm điểm cơ sở mà không có bất cứ ngọn hải đăng hay công trình nào tương tự xây trên đó. Trên thực tế, rất hiếm trường hợp mà quy chế của bãi cạn nửa nổi nửa chìm lại được công nhận rộng rãi như vậy.

Phán quyết năm 1951 của Tòa án Công lý quốc tế đã tuyên bố: “ Người ta không thể khăng khăng biểu thị đường ngấn nước thủy triều thấp nhất như một nguyên tác bắt buộc chạy theo bờ biển tại tất cả các chỗ uốn ngập của nó. Người ta cũng thể biểu tị như các ngoai lệ của quy tác này, các vi phạm nhiều đến nõi chúng gợi lên các mấp mô của một bờ biển gồ ghề; quy tác này sẽ mất đi trước các ngoại lệ. Toàn bộ một đường bờ biển như vậy đòi hỏi áp dụng một phương pháp khác: đó là đường cơ sở cách đường hình thể của bờ biển một khoảng hợp lý”

Với phán quyết trên, Tòa án công nhận việc phân định của Nauy dựa trên kỹ thuật đường cơ sở thẳng không trái với luật quốc tế. Điều này có ý nghĩa rất quan trong trong việc hình thành các quy phạm pháp luật quốc tế sau này, cụ thể như sau:

- Phán quyết đã ở đầu cho việc công nhận rộng rãi phương pháp đường cơ sở thẳng dùng đê tính chiều rộng lãnh hải. Các tiêu chuẩn của đường cơ sở thẳng nauy, qua phán quyết của Tòa, đã trở thành các tiêu chuẩn chung được pháp luật quốc tế thừa nhận và được điển chế hóa trong các công ước của Liên hợp quốc về Luật biển – Công ước Gevana năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp  và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.

Điều 7 của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 quy định:

“1. Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

2. Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những đặc điểm tự nhiên khác, các điểm thích hợp có thể được lựa chọn dọc theo ngấn nước triều thấp nhất có chuyển dịch vào phía trong bờ, các đường cơ sở đã được vạch ra vẫn có hiệu lực cho tới khi các quốc gia ven biển sửa đổi đúng theo Công ước.

3. Tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đắt liền đủ đến mức đạt được chế độ nội thủy.

>> Xem thêm:  Luật cạnh tranh thổ nhĩ kỳ

4. Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế.

5. Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng được áp dụng theo khoản 1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng.

6. Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế.

- Phán quyết đã đặt nền móng cho việc thống nhất định nghĩa vịnh, được ghi nhận trong Điều 7 của Công ước 1958 và Điều 10 của Công ước Luật biển năm 1982; vịnh cần được hiểu là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền mà chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở noài cửa của nó đến mức là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng đó lõm sâu hơn một sự uốn cong của bờ biển.

- Phán quyết của Tòa án công lý quốc tế ngày 18-12-1951 về vụ ngư trường Anh-Nauy cũng đưa ra dịnh nghĩa về vịnh lịch sử [2]: “Người ta gọi chung “vùng nước lịch sử” là các vùng nuosc mà người ta đối xử như các vùng nuosc nội thủy, trong khi đó cả vùng nuosc này thiếu mọt danh nghĩa lịch sử thì nó sẽ không có tính chất đó”.

- Phán quyết đã đề cập khái niệm estopel trong luật quốc tế. Sự im lặng của Anh hơn 70 năm đã đuợc coi như sự mặc nhiên thừa nhận hệ thống đường cơ sở thẳng của Nauy.

- Phán quyết còn được coi như một ví dụ trong việc phát triển lý thuyết mới của luật quốc tế: hiệu lực của sự phản đối bền bỉ - Persistant objiection/Objecteur persistant. Thực tiễn của thiểu số các quốc gia, trong một thời gian dài đươc sự khoan dung của cộng đồng quốc tế có thể trở thành một quy phạm mới của luật quốc tế.

(Công ty luật Minh Khuê - Sưu tầm và Biên tập)

>> Xem thêm:  Các nghề tư pháp ở cộng hòa Pháp