1. Vai trò của liên hiệp quốc trong việc duy trì hòa bình, an ninh thế giới

Ngày 12/06/1941 các nước đồng minh chống phát xít ký tại London bản tuyên bố khẳng định họ sẽ “cùng hợp tác với nhau và các dân tộc tự do khác, kể cả trong chiến tranh cũng như hòa bình”. Đây là bước đầu tiên trong hàng loạt nỗ lực nhằm dẫn đến việc thành lập Liên hợp quốc.

I. LƯỢC SỬ THÀNH LẬP LIÊN HỢP QUỐC

1. Về quá trình thành lập:

Quá trình thành lập tổ chức Liên hợp quốc trải qua các giai đoạn chính sau:

Ngày 12/06/1941 các nước đồng minh chống phát xít ký tại London bản tuyên bố khẳng định họ sẽ “cùng hợp tác với nhau và các dân tộc tự do khác, kể cả trong chiến tranh cũng như hòa bình”. Đây là bước đầu tiên trong hàng loạt nỗ lực nhằm dẫn đến việc thành lập Liên hợp quốc.

Ngày 14/08/1941, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt và thủ tướng Anh Winston Churchill đã ký văn kiện nêu ra các nguyên tắc hợp tác quốc tế nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Văn kiện này về sau có tên gọi là Hiến chương Đại Tây dương.

Ngày 1/1/1942 tại Washington, đại diện 26 nước đã ký bản tuyên bố cam kết sử dụng mọi nguồn lực có thể có của mình để chống lại khối trục Đức – Ý – Nhật và cam kết không ký thỏa ước riêng với các nước thuộc khối này. Bản tuyên bố này lần đầu tiên sử dụng nhóm từ “các quốc gia liên hợp” (United Nations) tức Liên hợp quốc do Tổng thống F. Roosevelt đề xướng.

Ngày 30/10/1943, Chính phủ Liên xô, Anh, Mỹ, Trung Hoa dân quốc ký tại Moscow bản tuyên bố kêu gọi sớm thành lập một tổ chức quốc tế với chức năng duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Quyết định này đã được khẳng định một lần nữa tại hội nghị cấp cao giữa nguyên thủ quốc gia ba nước Liên Xô, Anh và Mỹ tại Teheran ngày 1/12/1943.

Hội nghị các đại diện của Liên Xô, Anh và Mỹ họp tại lâu đài Dumbarton Oaks ở Washington D.C từ ngày 21/09/1944 đến ngày 07/10/1944 đã soạn thảo những đề xuất sơ bộ về việc thành lập một tổ chức quốc tế chung nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới. Về cơ bản đây là nền móng của Hiến chương sau này. Tuy nhiên hội nghị chưa quyết định được một loạt vần đề như thủ tục bỏ phiếu tại Hội đồng bảo an, quy chế của lãnh thổ quản thác, quy chế của Tòa án quốc tế,…

Ngày 11/02/1945, tại hội nghị Yalta (Liên xô cũ) giữa các nhà lãnh đạo các nước đồng minh, tổng thống Mỹ Franklin Roosevelt, thủ tướng Anh Winston Churchill và nguyên soái Liên xô Stalin ra tuyên bố khẳng định quyết tâm thành lập “một tổ chức quốc tế chung nhằm duy trì hòa bình và an ninh thế giới”.

Ngày 25/04/1945, tại San Fransisco, đại biểu của 50 nước đã tham dự cuộc họp quan trọng có tên là Hội nghị các quốc gia liên hiệp về các tổ chức quốc tế (United Nations Conference on International Organizations). Các nước đã soạn thảo một văn bản Hiến chương gồm 111 điều khoản và được ký ngày 26/6/1945. Hiến chương bắt đầu có hiệu lực từ ngày 24/10/1945 và từ đó cả thế giới lấy ngày này kỷ niệm ngày thành lập Liên hợp quốc.

Vai trò của liên hiệp quốc trong việc duy trì hòa bình, an ninh thế giới

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

2. Về trụ sở của Liên hợp quốc:

Trụ sở Liên hợp quốc cao 39 tầng phía đông hòn đảo Manhattan, NewYork, Mỹ trên một thửa đất rộng 18 mẫu Anh. Tại phiên họp đầu tiên của Đại hội đồng tại London ngày 14/02/1946, các thành viên Liên hợp quốc đã chấp thuận chọn New York làm trụ sở trong số các thành phố New York, Philadelphia, Boston và San Fransisco do lời cam kết của tỷ phú Mỹ Rockefeller tặng 8,5 triệu USD để mua mảnh đất nói trên. Ngày 21/11/1947 Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua kế hoạch xây trụ sở với kinh phí 65 triệu USD và đến ngày 21/08/1950 những nhân viên đầu tiên của Ban thư ký đã đến làm việc tại trụ sở mới. Khóa họp đầu tiên (khóa VII) củaa Đại hội đồng Liên hợp quốc tại trụ sở mới vào ngày 14/10/1952. Phòng lớn nhất của trụ sở là phòng họp của Đại hội đồng chiếm 3 tầng 2, 3 và 4 với chiều dài 50m, rộng 35m có 1092 chỗ ngồi chính thức, 476 chỗ dành cho các đại biểu dự khuyết, đại diện các cơ quan chuyên môn, 187 chỗ dành cho đại diện các đoàn thể quần chúng tham gia một số phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng. Hiện nay, Liên hợp quốc có khoảng 17.000 nhân viên, trong đó 7.075 người làm việc tại trụ sở Liên hợp quốc.

II. MỤC ĐÍCH, NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG VÀ THÀNH VIÊN CỦA LIÊN HỢP QUỐC

1. Mục đích hoạt động của Liên hợp quốc:

Liên hợp quốc được thành lập nhằm mục đích:

- Duy trì hòa bình và an ninh thế giới và để đạt được mục đích đó, thi hành các biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và loại trừ mối đe dọa hòa bình, cấm mọi hành vi xâm lược hoặc phá hoại hòa bình khác, điều chỉnh hoặc giải quyết bằng phương pháp hòa bình các tranh chấp quốc tế theo đúng các nguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế.

Phát triển những quan hệ hữu nghị giữa các nước trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng, các dân tộc tự quyết và dùng tất cả những biện pháp thích hợp khác để củng cố hòa bình thế giới.

- Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và nhân đạo trong việc khuyến khích phát triển và sự tôn trọng nhân quyền và những quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo.

- Trở thành trung tâm phối hợp mọi hành động của các dân tộc nhằm đạt được những mục đích nêu trên.1

2. Nguyên tắc hoạt động của Liên hợp quốc:

Liên hợp quốc hoạt động theo những nguyên tắc sau:

- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của tất cả các nước thành viên.

- Nguyên tắc các nước thành viên Liên hợp quốc phải làm tròn những nghĩa vụ mà họ đã cam kết theo Hiến chương.

- Nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình, sao cho không tổn hại đến hòa bình, an ninh và công lý.

- Nguyên tắc cấm đe dọa dùng vũ lực hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

- Nguyên tắc các nước thành viên Liên hợp quốc phải giúp đỡ đầy đủ Liên hợp quốc trong mọi hành động của Liên hợp quốc theo đúng các điều quy định của Hiến chương này và không được giúp đỡ bất kỳ một nước nào bị Liên hợp quốc áp dụng một hành động phòng ngừa hoặc cưỡng chế.

- Nguyên tắc đảm bảo để các nước không phải là thành viên Liên hợp quốc cũng hành động theo các nguyên tắc này vì nó cần thiết để duy trì hòa bình và an ninh thế giới.

- Nguyên tắc không cho phép Liên hợp quốc can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào.2

3. Thành viên của Liên hợp quốc

Hiến chương Liên hợp quốc quy định muốn trở thành thành viên của Liên hợp quốc thì các quốc gia phải thỏa mãn các tiêu chuẩn sau: thứ nhất phải là quốc gia yêu chuộng hòa bình (peace-loving states) và thừa nhận những nghĩa vụ ghi trong Hiến chương; thứ hai, phải được Liên hợp quốc xét có đủ khả năng và tự nguyện làm tròn những nghĩa vụ đó.3

Hiến chương còn quy định việc kết nạp bất kỳ một quốc gia nào vào Liên hợp quốc sẽ được tiến hành bằng nghị quyết của Đại hội đồng, theo đề nghị của Hội đồng bảo an.4

III. CÁC CƠ QUAN CỦA LIÊN HỢP QUỐC

1. Các cơ quan chủ yếu của Liên hợp quốc (Primary organs of United Nations):

Liên hợp quốc có 6 cơ quan chủ yếu là: Đại hội đồng, bao gồm tất cả các quốc gia thành viên, ba cơ quan có chức năng chuyên môn đặc biệt và bao gồm số lượng nhất định các quốc gia thành viên (Hội đồng bảo an, Hội đồng kinh tế và xã hội và Hội đồng quản thác), và hai cơ quan không bao gồm các quốc gia thành viên mà thành viên là những cá nhân (Ban thư ký và Tòa án quốc tế). Theo Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (United Nations Securiry Council) là cơ quan lãnh đạo chính trị thường trực của Liên hợp quốc.

1.1. Hội đồng bảo an

a. Chức năng của Hội đồng bảo an

Hội đồng bảo an là cơ quan được các thành viên Liên hợp quốc trao cho trách nhiệm trong việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới.5 Các thành viên Liên hợp quốc thừa nhận rằng khi làm những nghĩa vụ do trách nhiệm được giao thì Hội đồng bảo an hành động với tư cách thay mặt cho các thành viên.6 Hòa bình (peace) được hiểu là trong quan hệ quốc tế không có xung đột vũ trang. An ninh (security) được hiểu là không có xung đột mà có khuynh hướng gây nên những xung đột vũ trang.

Hội đồng bảo an có quyền điều tra bất cứ vụ tranh chấp hoặc tình thế nào mà có thể dẫn đến bất hòa giữa các quốc gia.7

Hội đồng bảo an có chức năng yêu cầu các bên tranh chấp giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình.8 Phương pháp hòa bình được Hiến chương Liên hợp quốc đề cập đến là đàm phán (negotiation), điều tra (enquiry), trung gian (mediation), hòa giải (conciliation), trọng tài (arbitration), bằng con đường tư pháp (judicial settlement), bằng việc sử dụng những cơ quan hoặc những hiệp định khu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác do các bên lựa chọn.9

Hội đồng bảo an là cơ quan xác định sự đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược và đưa ra những kiến nghị hoặc quyết định những biện pháp để duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh thế giới10. Những biện pháp mà Hội đồng bảo an có quyền quyết định bao gồm: thứ nhất, Hội đồng bảo an yêu cầu các thành viên áp dụng các biện pháp kinh tế và các biện pháp khác (không bao gồm dùng vũ lực) như đình chỉ một phần hay toàn bộ những quan hệ kinh tế, đường sắt, hàng hải, hàng không, bưu chính, điện tín, vô tuyến điện và các phương tiện giao thông khác (cấm vận), cắt đứt quan hệ ngoại giao để ngăn chặn hoặc chấm dứt hành động xâm lược11. Thứ hai, Hội đồng bảo an thực hiện hành động quân sự đối với quốc gia có hành động xâm lược như dùng các lực lượng hải, lục, không quân nếu xét thấy cần thiết cho việc duy trì hoặc khôi phục hòa bình và an ninh thế giới. Hành động này còn bao gồm cả những cuộc thị uy, những biện pháp phong tỏa và những cuộc hành binh khác, do các lực lượng hải, lục, không quân của những thành viên Liên hợp quốc thực hiện12. Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ cung cấp cho Hội đồng bảo an những lực lượng vũ trang, sự viện trợ và mọi phương tiện phục vụ khác kể cả việc cho quân đội Liên hợp quốc qua lãnh thổ của mình khi cần thiết cho việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới13. Các quốc gia thành viên sẽ tổ chức một số phi đội không quân của nước mình sẵn sàng chiến đấu nhằm phối hợp thực hiện một hành động quốc tế có tính chất cưỡng chế14. Cơ quan giúp Hội đồng bảo an để chỉ huy lực lượng vũ trang của Liên hợp quốc là Ban tham mưu quân đội gồm tham mưu trưởng các nước ủy viên thường trực Hội đồng bảo an15.

Hội đồng bảo an là cơ quan đề nghị việc kết nạp thành viên mới của Liên hợp quốc16 và đề nghị các điều kiện để các quốc gia có thể trở thành thành viên của Qui chế Tòa án quốc tế.17

Hội đồng bảo an thực hiện chức năng bảo trợ của Liên hợp quốc đối với các khu vực chiến lược (strategic areas).18

Hội đồng bảo an đề nghị Đại hội đồng bầu Tổng thư ký Liên hợp quốc19 và cùng với Đại hội đồng bầu các thẩm phán của Tòa án quốc tế.20

Hội đồng bảo an còn đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (UN peacekeeping operations).

b. Thành phần của Hội đồng bảo an

Hội đồng bảo an gồm 15 ủy viên, trong đó có 5 ủy viên thường trực (permanent members) là Anh, Pháp, Mỹ, CHND Trung Hoa 21, CHLB Nga 22 và 10 ủy viên không thường trực (non-permanent members) 23 được Đại hội đồng bầu ra với nhiệm kỳ 2 năm. Khi bầu các ủy viên không thường trực, Đại hội đồng phải đặc biệt tính đến sự đóng góp của thành viên Liên hợp quốc vào việc duy trì hòa bình và an ninh thế giới, vào các mục đích khác của Liên hợp quốc cũng như lưu ý đến sự phân bố công bằng theo khu vực địa lý24. Việc phân bố các ủy viên không thường trực được quy định như sau:

- Các nước Châu Á và Châu Phi : 5 ủy viên.

- Các nước Đông Âu : 1 ủy viên.

- Tây Âu và các nước khác25 : 2 ủy viên

- Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê : 2 ủy viên.

Chức vụ chủ tịch Hội đồng bảo an luân phiên hàng tháng theo vần chữ cái tiếng Anh tên của các quốc gia thành viên.

Thành viên tham gia và chức chủ tịch Hội đồng bảo an năm 2001 được qui định như sau:

Tháng Chủ tịch Thời điểm kết thúc nhiệm kỳ

01 Singapore 31/12/2002

02 Tunisia 31/12/2001

03 Ukraina 31/12/2001

04 Vương quốc Anh Ủy viên thường trực

05 Hoa Kỳ Ủy viên thường trực

06 Bangladesh 31/12/2001

07 CHND Trung hoa Ủy viên thường trực

08 Colombia 31/12/2002

09 Pháp Ủy viên thường trực

10 Ireland 31/12/2002

11 Jamaica 31/12/2001

12 Mali 31/12/2001

Mauritius 31/12/2002

Na uy 31/12/2002

CHLB Nga Ủy viên thường trực

c. Thủ tục bỏ phiếu tại Hội đồng bảo an

Mỗi ủy viên của Hội đồng bảo an có một lá phiếu.26

Những quyết định về các vấn đề thủ tục (procedural matters) được thông qua do phiếu thuận của 9/15 ủy viên của hội đồng.27

Những quyết định về tất cả các vấn đề khác (all other matters) phải được phiếu thuận của 9/15 ủy viên hội đồng trong đó có phiếu thuận của tất cả các ủy viên thường trực Hội đồng bảo an28. Đây là qui tắc “nhất trí của các nước lớn” (great Power unanimity) mà thường được gọi là quyền phủ quyết (veto) của các ủy viên thường trực Hội đồng bảo an.

Như vậy Hiến chương qui định các ủy viên thường trực Hội đồng bảo an có quyền phủ quyết những quyết định về tất cả các vấn đề khác. Các vấn đề khác được hiểu là các vấn đề không mang tính thủ tục (non-procedural matters). Vấn đề nào được coi là vấn đề mang tính thủ tục hay không mang tính thủ tục thì không được qui định trong Hiến chương mà thường do các ủy viên thường trực quyết định. Các vấn đề mang tính thủ tục là những vấn đề được qui định từ điều 28-32 Hiến chương, những vấn đề về chương trình nghị sự (agenda). Vấn đề không mang tính thủ tục thường là vấn đề về việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, vấn đề dùng vũ lực. Tóm lại, trong trường hợp biểu quyết thông qua các quyết định liên quan đến các vấn đề không mang tính thủ tục thì chỉ cần một ủy viên thường trực bỏ phiếu chống thì quyết định đó không được thông qua. Tuy nhiên trong thực tế, khi một ủy viên thường trực đưa ra một vấn đề nào đó cần biểu quyết tại Hội đồng bảo an và coi đây là một các vấn đề mang tính thủ tục nhưng (các) ủy viên thường trực khác bỏ phiếu phủ quyết thì vấn đề này trở thành vấn đề không mang tính thủ tục và lúc đó (các) ủy viên thường trực đó lại có quyền phủ quyết một lần nữa khi bỏ phiếu thông qua theo qui định của điều 27(3). Trường hợp này gọi là phủ quyết hai lần (double veto). Trong thời kỳ chiến tranh lạnh (1945 –1992), việc sử dụng quyền phủ quyết của các ủy viên thường trực như sau: Liên Xô: 114 lần, Mỹ: 69 lần, Anh: 30 lần, Pháp:18 lần, Trung Quốc: 3 lần. Sau thời kỳ này, quyền phủ quyết ít được sử dụng hoặc sử dụng một cách rất hạn chế. Quyền phủ quyết của ủy viên thường trực Hội đồng bảo an không được sử dụng trong các trường hợp sau:

- Khi ủy viên thường trực là một bên tranh chấp sẽ không bỏ phiếu trong việc giải quyết tranh chấp bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở chương VI của Hiến chương.29

- Quyết định của Hội đồng bảo an về triệu tập hội nghị toàn thể để xét lại Hiến chương.30

- Quyết định về bầu thẩm phán của Tòa án quốc tế.31

Hiến chương Liên hợp quốc qui định tất cả các quốc gia thành viên Liên hợp quốc đồng ý chấp thuận và thi hành quyết định của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc32. Trong khi các nghị quyết hoặc quyết định của các cơ quan khác của Liên hợp quốc chỉ mang tính chất khuyến nghị đối với các quốc gia thành viên thì Hội đồng bảo an là cơ quan duy nhất có quyền ban hành các quyết định có giá trị bắt buộc đối với tất cả các quốc gia thành viên.

(còn tiếp)

1. Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc.

2. Điều 2, những nguyên tắc này còn được đề cập trong Nghị quyết số 2625 (XXV) ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hiệp quốc về các nguyên tắc cơ bản của Luật Quốc tế.

3. – 20 Các điều 4 (1), 4 (2), … 97.

21. Điều 4 (1) Quy chế Tòa án quốc tế của Liên hợp quốc.

22. Kế thừa Liên Xô cũ từ ngày 17/01/1992.

23. Số lượng ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an tăng từ 6 lên 10 theo nghị quyết của Đại hội đồng ngày 17/12/1963 có hiệu lực ngày 31/08/1965.

25 – 32 Các điều 23 (1)….

(MKLAW FIRM sưu tầm trên internet)

2. Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng

Để thực hiện sự quan tâm đến những điều hướng dẫn sau đây, các chính phủ cần phát triển, củng cố hoặc giữ vững các chính sách mạnh mẽ về bảo vệ người tiêu dùng. Để thực hiện được điều đó, chính phủ mỗi nước phải giành ưu tiên cho việc bảo vệ người tiêu dùng, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của nước mình, với các nhu cầu của người dân và phải quan tâm đến hệ quả và lợi ích của các biện pháp đề ra.

Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng

Luật sư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số:1900.6162

I. Mục tiêu

Để thực hiện sự quan tâm đến quyền lợi người tiêu dùng trong tất cả các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển; ghi nhận rằng người tiêu dùng thường phải chịu sự bất cân xứng về mặt kinh tế, các cấp độ giáo dục và khả năng thương lượng trong mua bán; và ý thức được rằng người tiêu dùng có quyền được sử dụng các sản phẩm an toàn, cũng như cần phải khuyến khích sự phát triển kinh tế, xã hội một cách đúng đắn, công bằng và hợp lý, bản hướng dẫn bảo vệ người tiêu dùng này nhằm thực hiện những mục tiêu sau đây:

(a) Giúp các nước thực hiện và duy trì đầy đủ việc bảo vệ người dân của mình với tư cách là người tiêu dùng;

(b) Tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức sản xuất và phân phối đáp ứng được những nhu cầu và nguyện vọng của người tiêu dùng;

(c) Khuyến khích việc nâng cao phẩm chất đạo đức cho những người sản xuất, phân phối hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng;

(d) Giúp các nước hạn chế những thủ đoạn lạm dụng của các doanh nghiệp tầm cỡ quốc gia và quốc tế gây thiệt hại cho người tiêu dùng;

(e) Tạo thuận lợi cho sự phát triển các hội người tiêu dùng độc lập;

(f) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng;

(g) Khuyến khích sự phát triển của cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn hơn với giá cả thấp hơn;

(h) Khuyến khích tiêu dùng bền vững.

II. Các nguyên tắc chung

Để thực hiện sự quan tâm đến những điều hướng dẫn sau đây, các chính phủ cần phát triển, củng cố hoặc giữ vững các chính sách mạnh mẽ về bảo vệ người tiêu dùng. Để thực hiện được điều đó, chính phủ mỗi nước phải giành ưu tiên cho việc bảo vệ người tiêu dùng, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế, xã hội và môi trường của nước mình, với các nhu cầu của người dân và phải quan tâm đến hệ quả và lợi ích của các biện pháp đề ra.

Những nhu cầu pháp lý mà bản hướng dẫn nhằm hướng tới bao gồm:

a. Bảo vệ người tiêu dùng tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn;

b. Ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng;

c. Thông tin đầy đủ cho người tiêu dùng để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân;

d. Giáo dục người tiêu dùng, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của người tiêu dùng;

e. Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho người tiêu dùng;

f. Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức người tiêu dùng thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ.

g. Thúc đẩy tiêu dùng bền vững.

Việc sản xuất và tiêu dùng không bền vững, đặc biệt là ở các nước công nghiệp, là nguyên nhân chính của sự xuống cấp của môi trường toàn cầu. Tất cả các nước cần thúc đẩy tiêu dùng bền vững; các nước phát triển cần đi đầu trong việc thúc đẩy tiêu dùng bền vững; các nước đang phát triển cần tìm mọi cách để đẩy mạnh tiêu dùng bền vững trong quá trình phát triển của mình, cần quan tâm thích đáng tới nguyên tắc chung và các trách nhiệm cụ thể. Tình hình cụ thể và nhu cầu của các nước đang phát triển cần phải được ghi nhận đầy đủ.

Chính sách khuyến khích tiêu dùng hợp lý cần phải lưu ý mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người, giảm thiểu sự bất bình đẳng trong xã hội và giữa các nước.

Các chính phủ cần phát triển, củng cố và duy trì đủ cơ sở hạ tầng để phát triển, thực hiện và điều hành các chính sách bảo vệ người tiêu dùng. Cần quan tâm đặc biệt để bảo đảm các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng được thực hiện vì quyền lợi của toàn dân, đặc biệt là người dân sống ở vùng nông thôn và người nghèo.

Tất cả các tổ chức kinh doanh phải tuân theo pháp luật và những quy định của nhà nước, đồng thời phải phù hợp với những quy định của tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ người tiêu dùng mà cơ quan chức năng của nước đó đã thỏa thuận. (Sau đây các tiêu chuẩn quốc tế nói trong bản hướng dẫn đều được hiểu trong văn cảnh của chương này).

Vai trò tích cực của việc nghiên cứu trong các trường đại học và các doanh nghiệp kinh doanh tư nhân hay nhà nước cần được xem xét khi hoạch định các chính sách bảo vệ người tiêu dùng.

III. Các hướng dẫn

Các nguyên tắc chỉ đạo sau đây được áp dụng cho cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước và nhập khẩu.

Khi áp dụng bất cứ biện pháp hoặc quy định nào về bảo vệ người tiêu dùng, cần quan tâm thỏa đáng để đảm bảo rằng những quy định ấy sẽ không gây cản trở và mâu thuẫn với những điều ước về thương mại quốc tế.

A. An toàn sản phẩm

Chính phủ các nước cần phê chuẩn hoặc khuyến khích việc phê chuẩn các biện pháp thích hợp bao gồm những hệ thống pháp lý, những quy định về an toàn, các tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế, các tiêu chuẩn tự nguyện và lưu trữ hồ sơ an toàn để đảm bảo rằng các sản phẩm phải an toàn cho sử dụng theo mục đích, hoặc bình thường có thể dự đoán trước được.

Những chính sách thích hợp cần đảm bảo các sản phẩm được sản xuất ra phải an toàn cho việc sử dụng có mục đích hoặc bình thường có thể dự đoán được. Những người có trách nhiệm đưa sản phẩm ra thị trường đặc biệt là những người cung cấp, xuất nhập khẩu, những người buôn bán lẻ và tương tự (sau đây gọi là những nhà phân phối) cần phải đảm bảo rằng trong quá trình lưu thông, những hàng hóa này không trở thành độc hại do lưu kho hoặc quản lý không tốt. Người tiêu dùng cần được hướng dẫn đầy đủ về cách sử dụng hàng hóa và phải được thông báo về sự cố có thể xảy ra khi sử dụng theo mục đích, hoặc trong khi sử dụng bình thường có thể thấy trước được. Thông tin quan trọng về an toàn phải được truyền đạt tới người tiêu dùng bằng những ký hiệu quốc tế dễ hiểu nếu có.

Cần có chính sách thích hợp để đảm bảo rằng nếu nhà sản xuất hoặc nhà phân phối thấy được tác hại sau khi hàng hóa đã được đưa ra thị trường, thì họ phải khai báo ngay với những người có trách nhiệm, và tốt hơn là với toàn thể công chúng. Các chính phủ cần quan tâm đến các phương thức để bảo đảm rằng người tiêu dùng được thông tin chính xác về những tác hại ấy.

Khi cần thiết, chính phủ các nước cần ban hành các chính sách để nếu một sản phẩm được phát hiện là kém chất lượng một cách nghiêm trọng hoặc gây ra những tác hại thực sự nghiêm trọng ngay cả khi được sử dụng đúng, thì nhà sản xuất hoặc nhà phân phối phải thu hồi và thay thế, hoặc sửa chữa, hoặc đổi sản phẩm khác. Nếu không thể thực hiện được việc này trong một thời gian hợp lý, thì người tiêu dùng phải được bồi hoàn thỏa đáng.

B. Thúc đẩy và bảo vệ những quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng

Các chính sách của nhà nước cần làm cho người tiêu dùng được hưởng lợi nhiều nhất từ các nguồn lực kinh tế của họ. Những chính sách này phải cố gắng để hoàn thiện phương thức phân phối, thực hiện buôn bán ngay thẳng, tiếp thị có đầy đủ thông tin, và bảo vệ có hiệu quả chống lại những thủ đoạn có thể phương hại đến quyền lợi kinh tế và sự lựa chọn của người tiêu dùng trên thị trường.

Các chính phủ cần cố gắng ngăn chặn những thủ đoạn gây tổn hại đến quyền lợi kinh tế của người tiêu dùng, bằng cách bảo đảm các nhà sản xuất, nhà phân phối và những người có liên quan đến việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ phải tuân theo những luật pháp đã định và các tiêu chuẩn bắt buộc. Các tổ chức của người tiêu dùng cần được khuyến khích để giám sát những việc làm có hại như pha chất độn trong thực phẩm, quảng cáo gây nhầm lẫn hoặc gian dối trên thị trường và các gian lận trong cung cấp dịch vụ.

Trong trường hợp có thể, các chính phủ nên phát triển, củng cố và duy trì những biện pháp liên quan đến việc kiểm soát các thủ đoạn hạn chế hay lạm dụng trong buôn bán có thể có hại đến người tiêu dùng, bao gồm những biện pháp cưỡng chế đối với những thủ đoạn đó. Về vấn đề này, các chính phủ cần làm theo sự cam kết của mình đối với “Các nguyên tắc và quy tắc công bằng, nhất trí của nhiều bên và các điều lệ về kiểm soát các thủ đoạn hạn chế buôn bán” do Đại hội đồng thông qua trong Nghị quyết 35/63 ngày 5 tháng 12 năm 1980.

Các chính phủ cần phê chuẩn hoặc duy trì các chính sách làm rõ trách nhiệm của nhà sản xuất phải đảm bảo hàng hóa đáp ứng được nhu cầu hợp lý về độ bền, công dụng và độ tin cậy, phù hợp với mục đích sử dụng, và người bán phải biết được những yêu cầu này đã được đáp ứng hay chưa. Những chính sách tương tự cũng phải được áp dụng trong các khâu cung ứng dịch vụ.

Các chính phủ cần khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, có hiệu quả nhằm tạo cho người tiêu dùng được lựa chọn trong phạm vi rộng các sản phẩm và dịch vụ với chi phí thấp nhất.

Ở những nơi phù hợp, các chính phủ cần quan tâm để nhà sản xuất hoặc những nhà bán lẻ phải đảm bảo cung cấp các phụ tùng và dịch vụ sau bán hàng đủ tin cậy.

Người tiêu dùng cần được bảo vệ để tránh những gian lận trong hợp đồng, như hợp đồng do một bên quy định tiêu chuẩn, hợp đồng bỏ ra ngoài những quyền cơ bản và những điều kiện giao nhận không sòng phẳng của người bán.

Việc xúc tiến thương mại và việc thực hiện buôn bán phải tuân theo các nguyên tắc đối xử công bằng với người tiêu dùng và hợp pháp. Nguyên tắc này quy định việc cung cấp thông tin cần thiết để người tiêu dùng có thể độc lập quyết định, cũng như những biện pháp để bảo đảm rằng thông tin cung cấp là chính xác.

Các chính phủ cần khuyến khích mọi nguồn tin tự do đưa những thông tin chính xác về mọi mặt của sản phẩm tiêu dùng.

Để người tiêu dùng có thể tiếp cận thông tin chính xác về tác động môi trường của các sản phẩm và dịch vụ thì cần phải thông qua các phương tiện như các thông tin về sản phẩm, các báo cáo về môi trường của ngành, của các trung tâm thông tin người tiêu dùng, các chương trình dán nhãn chứng nhận về môi trường và các đường dây nóng thông tin về sản phẩm.

Các chính phủ, hợp tác chặt chẽ với các nhà sản xuất, các nhà phân phối và các tổ chức người tiêu dùng, cần có các biện pháp đối với các thông tin gây nhầm lẫn về môi trường trong các quảng cáo và các hoạt động tiếp thị khác.

Trong bối cảnh riêng của từng nước, các chính phủ cần khuyến khích các doanh nghiệp xây dựng và thực hiện các điều luật về tiếp thị và hành vi thương mại, thông qua sự hợp tác với các tổ chức người tiêu dùng, nhằm bảo vệ người tiêu dùng một cách thỏa đáng. Những thỏa thuận tự nguyện cũng có thể được các tổ chức kinh doanh và các bên quan tâm khác cùng nhau xây dựng. Những điều luật này phải được công bố rộng rãi.

Các chính phủ cần thường xuyên xem xét các văn bản pháp lý liên quan đến việc tính toán và đánh giá xem bộ máy thi hành có đủ năng lực không.

C. Các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng của sản phẩm và dịch vụ

Trong điều kiện thích hợp, các chính phủ cần xây dựng hoặc xúc tiến việc soạn thảo và thực hiện các tiêu chuẩn theo hình thức tự nguyện hoặc các hình thức khác, ở cấp độ quốc gia và quốc tế về an toàn và chất lượng của hàng hóa và dịch vụ, và phải công bố công khai những tiêu chuẩn đó. Những quy định và tiêu chuẩn quốc gia về an toàn và chất lượng sản phẩm phải được thường xuyên xem xét để khi có điều kiện, đảm bảo cho những quy định và tiêu chuẩn đó phù hợp với những tiêu chuẩn chung đã được quốc tế công nhận.

Ở những nơi nào do điều kiện kinh tế mà phải áp dụng những tiêu chuẩn thấp hơn những tiêu chuẩn phổ biến được quốc tế công nhận, thì phải cố gắng nâng cao những tiêu chuẩn đó càng sớm càng tốt.

Các chính phủ cần khuyến khích và đảm bảo các phương tiện để kiểm nghiệm và xác nhận độ an toàn, chất lượng của hàng hóa và dịch vụ thiết yếu của người tiêu dùng.

D. Các phương tiện phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu

Nếu phù hợp, các chính phủ cần xem xét:

(a) Phê chuẩn hoặc duy trì các chính sách để đảm bảo sự phân phối hiệu quả hàng hóa và dịch vụ cho người tiêu dùng; ở nơi thích hợp, cần xem xét các chính sách đặc biệt để đảm bảo việc phân phối những hàng hóa và dịch vụ thiết yếu ở những nơi việc phân phối gặp khó khăn, đặc biệt đối với các khu vực nông thôn. Những chính sách ấy có thể bao gồm việc trợ giúp để tạo ra các kho chứa và các phương tiện bán lẻ thích hợp ở các trung tâm mua bán nông thôn, khuyến khích người tiêu dùng tự giải quyết và kiểm tra tốt hơn các điều kiện cung ứng hàng hóa và dịch vụ thiết yếu ở nông thôn;

(b) khuyến khích việc thành lập các hợp tác xã tiêu thụ và các hoạt động thương mại có liên quan, cũng như thông tin về các hoạt động đó, đặc biệt ở các vùng nông thôn.

E. Các biện pháp giúp người tiêu dùng được bồi thường

Chính phủ các nước cần thiết lập hoặc duy trì những biện pháp hành chính và/hoặc pháp chế để giúp người tiêu dùng hoặc, nếu phù hợp, các tổ chức liên quan có thể nhận bồi thường thông qua các thủ tục chính thức hoặc không chính thức một cách nhanh chóng, công bằng, không tốn kém và thuận tiện. Cần đặc biệt chú ý tới nhu cầu của người tiêu dùng có thu nhập thấp.

Các chính phủ cần khuyến khích các doanh nghiệp giải quyết thắc mắc của người tiêu dùng một cách sòng phẳng, nhanh chóng và bình thường; nên thiết lập các cơ chế tự nguyện, bao gồm những dịch vụ tư vấn và các phương thức khiếu nại không chính thức để giúp đỡ người tiêu dùng.

Cần để người tiêu dùng nhận được các thông tin về việc bồi thường và các hình thức giải quyết tranh chấp.

F. Các chương trình giáo dục và thông tin

Các chính phủ cần phát triển hoặc khuyến khích các chương trình thông tin và giáo dục cho người tiêu dùng, bao gồm thông tin về tác động đối với môi trường của sự lựa chọn của người tiêu dùng và hành vi và các tác dụng có thể có, bao gồm các lợi ích và chi phí, của những thay đổi trong tiêu dùng, có lưu ý đến truyền thống văn hóa của những đối tượng được giáo dục. Mục đích của các chương trình này cần tạo cho mọi người khả năng hành động độc lập, có khả năng lựa chọn một cách có căn cứ các hàng hóa, dịch vụ và ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của họ. Khi thực hiện các chương trình đó, cần chú ý đặc biệt đến nhu cầu của những người tiêu dùng bị thiệt thòi ở cả hai khu vực nông thôn và thành thị, kể cả những người tiêu dùng có thu nhập thấp và những người có trình độ văn hóa thấp hoặc mù chữ. Các tổ chức người tiêu dùng, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan khác cần phải cùng tham gia vào những nỗ lực giáo dục này.

Ở nơi nào phù hợp, giáo dục người tiêu dùng phải trở thành một bộ phận cấu thành của chương trình cơ bản của hệ thống giáo dục, tốt nhất là lồng ghép vào các môn học hiện hành.

Các chương trình thông tin và giáo dục người tiêu dùng phải bao quát các khía cạnh quan trọng về bảo vệ người tiêu dùng sau đây:

(a) Sức khỏe, dinh dưỡng, ngăn cản bệnh loãng xương, thực phẩm bị pha trộn;

(b) Tác hại của sản phẩm;

(c) Ghi nhãn sản phẩm;

(d) Pháp luật có liên quan; làm thế nào để được bồi thường, các cơ quan và tổ chức bảo vệ người tiêu dùng;

(e) thông tin về cân đo, giá cả, chất lượng, điều kiện mua bán và việc cung ứng các nhu cầu cơ bản;

(f) bảo vệ môi trường;

(g) sử dụng hợp lý vật liệu, năng lượng, nguồn nước

Các chính phủ cần khuyến khích các tổ chức người tiêu dùng và các nhóm liên quan khác, bao gồm báo chí, để tiến hành các chương trình giáo dục và thông tin, bao gồm các tác động về môi trường của việc mua sắm, bao gồm các lợi ích và chi phí của những thay đổi trong tiêu dùng, đặc biệt là lợi ích của các nhóm người tiêu dùng thu nhập thấp ở cả khu vực thành thị và nông thôn.

Ở những nơi nào phù hợp, doanh nghiệp phải đảm trách hoặc tham gia một cách thực tiễn và thích hợp vào các chương trình thông tin giáo dục người tiêu dùng.

Quan tâm đến sự cần thiết phải đưa chương trình thông tin và giáo dục người tiêu dùng đến những người tiêu dùng ở nông thôn và những người tiêu dùng không biết chữ, các chính phủ cần phát triển hoặc khuyến khích phát triển các chương trình thông tin người tiêu dùng trên phương tiện thông tin đại chúng.

Các chính phủ cần tổ chức hoặc khuyến khích các chương trình tập huấn cho những người làm công tác giáo dục, những người công tác ở các phương tiện thông tin đại chúng và những người làm tư vấn về tiêu dùng, để giúp họ có thể tham gia vào việc triển khai các chương trình giáo dục và thông tin cho người tiêu dùng.

G. Thúc đẩy tiêu dùng bền vững

Tiêu dùng bền vững là việc thỏa mãn được nhu cầu của các thế hệ hiện tại và tương lai đối với hàng hóa và dịch vụ một cách bền vững về mặt kinh tế, xã hội và môi trường.

Tiêu dùng bền vững là trách nhiệm chung của tất cả các nước thành viên, các tổ chức xã hội, người tiêu dùng, doanh nghiệp, các tổ chức lao động. Các tổ chức môi trường và các tổ chức người tiêu dùng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Người tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiêu dùng bền vững về mặt môi trường, kinh tế, xã hội, bao gồm thông qua tác động của sự lựa chọn các nhà sản xuất. Các Chính phủ cần thúc đẩy sự phát triển và thực hiện các chính sách tiêu dùng bền vững và phải thống nhất chính sách này với các chính sách công khác. Việc hoạch định chính sách của chính phủ nên được tiến hành với sự tham vấn của doanh nghiệp, người tiêu dùng, các tổ chức môi trường và các tổ chức có liên quan khác. Doanh nghiệp có trách nhiệm thúc đẩy tiêu dùng bền vững thông qua việc thiết kể, sản xuất và phân phối hàng hóa và dịch vụ. Người tiêu dùng và các tổ chức môi trường có trách nhiệm thúc đẩy sự tham gia tranh luận về của công chúng đối với vấn đề tiêu dùng bền vững và hợp tác với chính phủ và doanh nghiệp về vấn đề tiêu dùng bền vững.

Các chính phủ, hợp tác với doanh nghiệp và các tổ chức dân sự liên quan, cần xây dựng và thực hiện các chiến lược thúc đẩy tiêu dùng bền vững thông qua việc phối hợp thực hiện nhiều chính sách trong đó có thể bao gồm các quy định pháp luật; các công cụ kinh tế xã hội; các chính sách trong các lĩnh vực như sử dụng đất, giao thông, năng lượng và nhà ở; các chương trình thông tin nhằm tăng cường nhận thức về tác động của tiêu dùng; loại bỏ những trợ cấp là nguyên nhân gây ra sản xuất và tiêu dùng bất hợp lý và thúc đẩy các hoạt động quản lý môi trường đối với từng ngành cụ thể.

Các chính phủ cần khuyến khích việc thiết kế, phát triển và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ an toàn và tiết kiệm năng lượng, có cân nhắc tới các tác động vòng đời. Các chính phủ cần khuyến khích các chương trình tái chế nhằm khuyến khích người tiêu dùng tái chế rác thải và mua bán các sản phẩm tái chế.

Các chính phủ cần thúc đẩy sự phát triển và việc sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế và quốc gia về an toàn môi trường đối với sản phẩm và dịch vụ; những tiêu chuẩn đó không được tạo ra các rào cản thương mại.

Các chính phủ cần khuyến khích kiểm nghiệm tác động môi trường của sản phẩm.

Các chính phủ cần quản lý cẩn thận việc sử dụng những vật liệu gây nguy hại đến môi trường và khuyến khích sự ra đời của những vật liệu thay thế. Những vật liệu mới tiềm tàng chứa đựng nguy cơ gây hại tới môi trường cần phải được đánh giá trên cơ sở khoa học về tác động lâu dài đối với môi trường trước khi những vật liệu đó được đem đi phân phối.

Các chính phủ cần tăng cường nhận thức các lợi ích liên quan tới sức khỏe của việc tiêu dùng và sản xuất bền vững, lưu ý cả các tác động đối với sức khỏe cá nhân và đối với tập thể thông qua bảo vệ môi trường.

Các chính phủ, phối hợp với doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức liên quan khác, cần khuyến khích thay đổi việc tiêu dùng không bền vững thông qua phát triển và sử dụng các sản phẩm và dịch vụ có lợi cho môi trường và cho ra đời các công nghệ mới, bao gồm công nghệ thông tin về công nghệ truyền thông, mà có thể vừa thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng vừa giảm thiểu ô nhiễm và sự mất cân đối các nguồn lực tự nhiên.

Các chính phủ cần xây dựng hoặc phát triển các cơ chế quản lý hiệu quả để bảo vệ người tiêu dùng, bao gồm các khía cạnh của tiêu dùng bền vững.

Các chính phủ cần xem xét một loạt các công cụ kinh tế, ví dụ như các công cụ tài khóa về chi phí môi trường, để thúc đẩy tiêu dùng bền vững, cần lưu ý các nhu cầu xã hội, nhu cầu và động lực gây ra hành vi bền vững, trong khi tránh những tác động tiêu cực tiềm tàng khi tiếp cận thị trường, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển.

Các chính phủ, hợp tác với doanh nghiệp và các tổ chức liên quan khác, cần xây dựng những hướng dẫn, phương pháp luận và cơ sở dữ liệu đối với những tiến bộ theo hướng tiêu dùng hợp lý ở mọi cấp độ. Thông tin này cần được công bố công khai.

Các chính phủ và các tổ chức quốc tế cần đi đầu trong việc thực hiện các hoạt động bền vững trong hoạt động của mình, đặc biệt thông qua các chính sách mua sắm của họ. Ở những nơi thích hợp, mua sắm của chính phủ cần khuyến khích sự phát triển và sử dụng những sản phẩm và dịch vụ có lợi cho môi trường.

Các chính phủ và các tổ chức liên quan khác cần thúc đẩy nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng mà có liên quan tới thiệt hại đối với môi trường để xác định các biện pháp giúp tiêu dùng ngày càng bền vững.

H. Các biện pháp liên quan tới các lĩnh vực cụ thể

Trong việc bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, nếu cho phép, các chính phủ cần ưu tiên cho các lĩnh vực được quan tâm đặc biệt về sức khỏe của người tiêu dùng như thức ăn, nước và thuốc chữa bệnh. Cần phê duyệt hoặc duy trì các chính sách về kiểm tra chất lượng sản phẩm, về các phương tiện phân phối an toàn và thích hợp, tiêu chuẩn hóa việc ghi nhãn quốc tế và thông tin, cũng như các chương trình giáo dục nghiên cứu ở các vùng này. Hướng dẫn của chính phủ đối với các lĩnh vực cụ thể cần được phát triển trong khuôn khổ các điều khoản của văn bản này.

Thực phẩm.

Khi xây dựng các chính sách và kế hoạch nhà nước về thực phẩm, các chính phủ cần xem xét nhu cầu của tất cả những người tiêu dùng đối với sự an toàn thực phẩm, cần ủng hộ và nếu có thể, chấp nhận các tiêu chuẩn của Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hiệp Quốc, Tổ chức y tế thế giới của Liên Hiệp Quốc và Tổ chức Codex Limentarius cả WHO hoặc khi không có những tiêu chuẩn này thì công nhận các tiêu chuẩn về thực phẩm quốc tế đã được công nhận rộng rãi khác.

Các chính phủ cần đẩy mạnh các chính sách và hoạt động nông nghiệp bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất và nước, ghi nhận kiến thức truyền thống.

Nước

Trong khuôn khổ đề ra cho chương trình cấp nước quốc tế và Thập kỷ vệ sinh, các chính phủ cần xây dựng, duy trì và củng cố các chính sách nhà nước để cải tiến việc cung cấp, phân phối, và chất lượng nước uống. Cần phải quan tâm thích đáng đến việc lựa chọn những mức độ chất lượng và công nghệ phù hợp, đến nhu cầu cho các chương trình giáo dục và tầm quan trọng của việc tham gia của cộng đồng.

Các chính phủ cần đặt ưu tiên cao cho việc xây dựng và thực hiện các chính sách và chương trình liên quan tới việc sử dụng nước, ghi nhận tầm quan trọng của sự phát triển bền vững của nước nói chung và thực tế hạn chế nguồn nước nói riêng.

Dược phẩm

Các chính phủ cần phát triển hoặc duy trì các tiêu chuẩn hợp lý, những quy định và các hệ thống điều hành phù hợp để đảm bảo chất lượng và việc sử dụng dược phẩm một cách hợp lý thông qua các chính sách thống nhất của nhà nước về dược phẩm. Những tiêu chuẩn và quy định đó cần đề cập đến việc cung ứng phân phối, sản xuất cấp chứng nhận các hệ thống đăng ký, và việc cung cấp những thông tin tin cậy về dược phẩm. Những tiêu chuẩn và quy định đó cần đề cập đến việc cung ứng phân phối, sản xuất, cấp chứng nhận các hệ thống đăng ký, và việc cung cấp những thông tin tin cậy về dược phẩm. Trong khi thực hiện, các chính phủ cần chú ý đặc biệt đến công việc và những kiến nghị của Tổ chức y tế thế giới về dược phẩm. Đối với những sản phẩm phù hợp, nên khuyến khích việc sử dụng bản kế hoạch cấp chứng chỉ về chất lượng của các loại dược phẩm đang lưu hành trên thương trường quốc tế và các hệ thống thông tin quốc tế khác của WHO về dược phẩm. Nếu được, cũng cần phải thực hiện những biện pháp đẩy mạnh việc sử dụng những tên gọi quốc tế không độc quyền cho các loại dược phẩm (INNs) do Tổ chức y tế thế giới vạch ra.

62. Ngoài những lĩnh vực ưu tiên nói ở trên, các chính phủ cần phê chuẩn những biện pháp phù hợp đối với lĩnh vực khác, như thuốc trừ sâu và hóa chất, và nếu được, quy định cả việc sử dụng, sản xuất, và lưu kho của các loại thuốc trên. Để thể hiện sự quan tâm thích đáng đến các thông tin về sức khỏe và môi trường, các chính phủ có thể yêu cầu người sản xuất phải cung cấp thông tin, kể cả việc ghi lại thông tin đó trên nhãn sản phẩm.

IV. Hợp tác quốc tế

63. Đặc biệt trong bối cảnh khu vực hoặc tiểu khu vực, các chính phủ cần:

(a) Phát triển, rà soát, duy trì hoặc củng cố các cơ chế trao đổi thông tin về những chính sách và biện pháp của nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ người tiêu dùng.

(b) Hợp tác và khuyến khích sự hợp tác trong việc áp dụng các chính sách bảo vệ người tiêu dùng nhằm đạt được những kết quả lớn hơn trong phạm vi những nguồn lực hiện có. Những ví dụ về sự hợp tác như vậy có thể là sự hợp tác trong việc lập ra hay phối hợp sử dụng những trang thiết bị thí nghiệm, những quy trình thử nghiệm chung, thay đổi những chương trình về thông tin và giáo dục người tiêu dùng, những chương trình tập huấn và phối hợp biên soạn các quy định.

(c) Hợp tác trong việc cải thiện những điều kiện để cung ứng những sản phẩm thiết yếu cho người tiêu dùng, chú ý cả hai mặt giá cả và chất lượng. Sự hợp tác như vậy cần bao gồm việc phối hợp cung ứng những hàng hóa thiết yếu, trao đổi thông tin về khả năng cung ứng và những thỏa thuận về việc xác định đặc tính của sản phẩm trong địa phương.

64. Các chính phủ cần phát triển hoặc củng cố các mạng lưới thông tin có liên quan tới các sản phẩm đã và đang bị cấm, thu hồi hoặc thu hẹp phạm vi lưu hành nhằm tạo điều kiện cho các nước nhập khẩu khác tự bảo vệ có hiệu quả tránh những hậu quả tai hại của các sản phẩm đó.

65. Các chính phủ cần hành động để đảm bảo rằng chất lượng sản phẩm và những thông tin liên quan tới các sản phẩm đó không thay đổi trong các nước trên thế giới để có thể gây tác hại cho người tiêu dùng.

66. Để thúc đẩy tiêu dùng bền vững, các chính phủ, các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp cần hợp tác với nhau để phát triển, chuyển giao và tuyên truyền về các công nghệ có lợi cho môi trường, bao gồm thông qua các hỗ trợ tài chính từ các nước phát triển, và để tạo ra các cơ chế mới hỗ trợ việc trao đổi giữa tất cả các nước, đặc biệt là đối với và giữa các nước đang phát triển và những nước có nền kinh tế chuyển đổi.

67. Các chính phủ và các tổ chức quốc tế, ở những nơi thích hợp, cần thúc đẩy và tạo điều kiện xây dựng năng lực trong lĩnh vực tiêu dùng bền vững, đặc biệt là ở những nước đang phát triển và những nước có nền kinh tế chuyển đổi. Đặc biệt, các chính phủ cũng cần tạo điều kiện hợp tác giữa các nhóm người tiêu dùng và các tổ chức quần chúng liên quan nhằm mục đích xây và củng cố năng lực trong lĩnh vực này.

68. Các chính phủ và các cơ quan quốc tế, ở những nơi thích hợp, cần thúc đẩy các chương trình liên quan đến giáo dục và thông tin người tiêu dùng.

69. Các chính phủ cần hành động để đảm bảo rằng các chính sách và biện pháp bảo vệ người tiêu dùng được thực hiện với sự quan tâm đúng mức để chúng không trở ngại và phù hợp với các chế định của thương mại quốc tế.

SOURCE: Trích dẫn từ: http://vibonline.com.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

3. Tuyên ngôn tòa thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc

Lời nói đầu: Với nhận thức rằng: Việc thừa nhận nhân phẩm vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hoà bình trên thế giới. Sự xâm phạm và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những hành động tàn bạo xâm phạm tới lương tâm của nhân loại, và việc xây dựng một thế giới trong đó con người được tự do ngôn luận và tín ngưỡng, không còn phải chịu nỗi sơ\

Nhân quyền phải được pháp luật bảo vệ để mỗi người không buộc phải nổi loạn như là biện pháp cuối cùng để chống lại chế độ cường quyền và áp bức. Cần phải khuyến khích việc phát triển quan hệ bằng hữu giữa các dân tộc. Nhân dân các nước thành viên Liên Hợp Quốc trong bản Hiến chương đã một lần nữa khẳng định niềm tin của mình vào những quyền cơ bản của con người, vào nhân phẩm, vào giá trị của mỗi người, vào quyền bình đẳng nam nữ, và đã bà̀y tỏ quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như xây dựng các điều kiện sống tốt hơn, tự do hơn. Các nước thành viên đã cam kết, cùng với tổ chức Liên Hợp Quốc, phấn đấu thúc đẩy mọi người tôn trọng và thực hiện các quyền cũng như những tự do cơ bản của con người. Nhận thức thống nhất về những quyền và tự do đó của con người là yếu tố quan trọng nhất cho việc thực hiện đầy đủ cam kết này.

>> Luật sư tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp trực tuyến gọi số:1900.6162

Tuyên ngôn tòa thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc

Tư vấn pháp luật doanh nghiệp - Ảnh minh họa

Nay, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố:

Bản tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền này là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội, trên cơ sở luôn ghi nhớ Bản tuyên ngôn này, sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục, cũng như sẽ phấn đấu đảm bảo cho mọi người dân, ở chính các nước thành viên của Liên Hợp Quốc và ở các lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình, công nhận và thực hiện những quyền và tự do đó một cách có hiệu quả thông qua những biện pháp tích cực, trong phạm vi quốc gia hay quốc tế.

Điều 1:
Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu.

Điều 2:
Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do nêu trong Bản tuyên ngôn này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội.

Ngoài ra, cũng không có bất cứ sự phân biệt nào về địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, được đặt dưới chế độ ủy trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế.

Điều 3:
Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân.

Điều 4:
Không ai phải làm nô lệ hay bị cưỡng bức làm việc như nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị ngăn cấm.

Điều 5:
Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm.

Điều 6:
Mọi người đều có quyền được thừa nhận tư cách là con người trước pháp luật ở khắp mọi nơi.

Điều 7:

Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau không có bất cứ sự phân biệt nào. Tất cả mọi người đều được bảo vệ như nhau chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử vi phạm Bản tuyên ngôn này cũng như chống lại mọi hành vi xúi giục phân biệt đối xử như vậy.

Điều 8:
Mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bênh vực theo pháp luật trước những hành vi vi phạm các quyền cơ bản do hiến pháp hay luật pháp quy định.

Điều 9:
Không ai bị bắt, giam giữ hay đày đi nơi khác một cách độc đoán.

Điều 10:
Mọi người, với tư cách bình đẳng về mọi phương diện, đều có quyền được một toà án độc lập và vô tư phân xử công bằng và công khai để xác định quyền, nghĩa vụ hoặc bất cứ một lời buộc tội nào đối với người đó.

Điều 11:
1. Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp.

2. Không ai bị kết tội hình sự vì một hành vi hay sự tắc trách không bị coi là một tội hình sự theo quy định của luật pháp quốc gia hay quốc tế vào thời điểm đó. Cũng như không cho phép áp dụng hình thức xử phạt đối với một tội hình sự nặng hơn so với quy định của luật pháp lúc bấy giờ cho mức độ phạm tội cụ thể như vậy.

Điều 12:
Không ai bị can thiệp một cách độc đoán đối với cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hay thư tín của cá nhân người đó cũng như không bị xâm phạm tới danh dự và uy tín. Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi can thiệp hoặc xâm phạm như vậy.

Điều 13:
1. Mọi người đều có quyền tự do đi lại và cư trú trong phạm vi lãng thổ của mỗi quốc gia.
2. Mọi người đều có quyền rời khỏi bất cứ nước nào, kể cả nước mình, cũng như có quyền trở về nước mình.

Điều 14:
1. Mọi người đều có quyền tìm kiếm và được lánh nạn ở những nước khác khi bị ngược đãi.
2. Quyền này không được áp dụng trong trường hợp đương sự bị truy tố vì những tội không mang tính chất chính trị hay vì những hành vi đi ngược lại mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc.

Điều 15:
1. Mọi người đều có quyền nhập quốc tịch của một nước nàa đó.
2. Không ai bị tước đoạt quốc tịch của mình hay bị khước từ quyền được thay đổi quốc tịch một cách độc đoán.

Điều 16:
1. Nam hay nữ đến tuổi thành niên đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất cứ một hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong cuộc sống vợ chồng và lúc ly hôn.
2. Việc kết hôn chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên.
3. Gia đình là một đơn vị tự nhiên và cơ bản của xã hội và được xã hội và nhà nước bảo vệ.

Điều 17:
1. Mọi người đều có quyền sở hữu tài sản của riêng mình hay chung với những người khác.
2. Không ai bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.

Điều 18:
Mọi người đều có quyền tự do suy nghĩ, ý thức và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, và tự do thể hiện tôn giáa hoặc tín ngưỡng dưới hình thức truyền bá, thực hành, thờ phụng hoặc lễ tiết, với tư cách cá nhân hay tập thể, công khai hay riêng tư.

Điều 19:
Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bâày tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới.

Điều 20:
1. Mọi người đều có quyền tự do họp hành và tham gia hiệp hội một cách hoà bình.
2. Không ai bị bắt buộc phải tham gia một hiệp hội nào.

Điều 21:
1. Mọi người đều có quyền tham gia vào chính quyền của nước mình, một cách trực tiếp hay thông qua những đại diện được tự do lựa chọn.
2. Mọi người đều có quyền được hưởng các dịch vụ công cộng của đất nước mình một cách bình đẳng.
3. Ý chí của nhân dân là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền; ý chí này được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, theo nguyên tắc bỏ phiếu phổ thông và bình đẳng và được thực hiện qua bỏ phiếu kín hoặc qua các thủ tục bỏ phiếu tự do tương tự.

Điều 22:
Với tư cách là thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được hưởng bảo hiểm xã hội cũng như được thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá không thể thiếu đối với nhân phẩm và tự do phát triển nhân cách của mình, thông qua nỗ lực quốc gia, hợp tác quốc tế và phù hợp với hệ thống tổ chức và nguồn lực của mỗi quốc gia.

Điều 23:
1. Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn công việc, được hưởng điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống lại tình trạng thất nghiệp.
2. Mọi người đều có quyền được trả công ngang nhau cho công việc như nhau, không có bất cứ sự phân biệt đối xử nào.
3. Mọi người lao động đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và thuận lợi đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng được nhận và được hỗ trợ thêm từ các hình thức bảo trợ xã hội khác, nếu cần thiết.
4. Mọi người đều có quyền thành lập và tham gia các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.

Điều 24:
Mọi người đều có quyền nghỉ ngơi và giải trí, kể cả quyền được hạn chế hợp lý về số giờ làm việc và hưởng những ngày nghỉ định kỳ được trả lương.

Điều 25:
1. Mọi người đều có quyền được hưởng mức sống đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các mặt ăn, mặc, ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết khác, cũng như có quyền được bảa hiểm trong trường hợp thất nghiệp, ốm đau, tàn tật, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khả năng kiểm soát của mình.
2. Các bà mẹ và trẻ em cần được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Tất cả trẻ em, sinh ra trong hoặc ngoài giá thú, đều được hưởng mức độ bảo trợ xã hội như nhau.

Điều 26:
1. Mọi người đều có quyền được học hành. Phải áp dụng chế độ giáo dục miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và giáo dục cơ sở. Giáo dục tiểu học là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và ngành nghề phải mang tính phổ thông, và giáo dục cao học phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có đủ khả năng.
2. Giáo dục phải hướng tới mục tiêu giúp con người phát triển đầy đủ nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng đối với các quyền và tự do cơ bản của con người. Giáo dục phải tăng cường sự hiểu biết, lòng vị tha và tình bằng hữu giữa tất cả các dân tộc, các nhóm tôn giáo và chủng tộc, cũng như phải đảy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc vì mục đích gìn giữ hoà bình.
3. Cha, mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn loại hình giáo dục cho con cái.

Điều 27:
1. Mọi người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia xẻ những thành tựu và lợi ích của tiến bộ khoa học.
2. Mọi người đều có quyền được bảo hộ đối với những quyền lợi về vật chất và tinh thần xuất phát từ công trình khoa học, văn học và nghệ thuật mà người đó là tác giả.

Điều 28:
Mọi người đều có quyền được hưởng trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó các quyền và tự do nêu trong Bản tuyên ngônnày có thể được thực hiện đầy đủ.

Điều 29:
1. Mọi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ.
2. Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.
3. Trong bất cứ trường hợp nào, việc thực hiện những quyền và tự do này cũng knông được đi ngược lại với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc.

Điều 30:
Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạt động nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này.

(*) Được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua và công bố theo nghị quyết số 217 ( III), ngày 10 – 12 – 1948

4. Hội đồng bảo an liên hợp quốc

Theo Điều 24 của Hiến chương Liên hợp quốc, các nước thành viên Liên hợp quốc trao cho Hội đồng Bảo an trách nhiệm chính trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế. Theo đó, Hội đồng Bảo an có thể áp dụng các biện pháp nhằm giải quyết hoà bình các tranh chấp, xung đột và khi cần thiết, có thể sử dụng các biện pháp, kể cả cưỡng chế và vũ lực, nhằm loại trừ các mối đe doạ, phá hoại hoà bình, hoặc các hành động xâm lược.

I. Nguồn gốc:

Theo Điều 24 của Hiến chương Liên hợp quốc, các nước thành viên Liên hợp quốc trao cho Hội đồng Bảo an trách nhiệm chính trong việc giữ gìn hoà bình và an ninh quốc tế. Theo đó, Hội đồng Bảo an có thể áp dụng các biện pháp nhằm giải quyết hoà bình các tranh chấp, xung đột và khi cần thiết, có thể sử dụng các biện pháp, kể cả cưỡng chế và vũ lực, nhằm loại trừ các mối đe doạ, phá hoại hoà bình, hoặc các hành động xâm lược. Các quy định của Hiến chương liên quan đến HĐBA nằm trong các chương V, VI, VII, VIII và XII.

1. Thành viên:

Hội đồng Bảo an gồm 15 nước thành viên, trong đó có 5 nước uỷ viên thường trực là: Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và 10 thành viên không thường trực do ĐHĐ LHQ bầu ra với nhiệm kỳ hai năm trên cơ sở phân chia công bằng về mặt địa lý và có tính tới sự đóng góp của những nước này cho tôn chỉ và mục đích của LHQ và không được bầu lại nhiệm kỳ kế ngay sau khi mãn nhiệm.

10 nước thành viên không thường trực được bầu theo sự phân bổ khu vực địa lý như sau: 5 nước thuộc châu Phi và châu Á; 1 nước thuộc Đông Âu; 2 nước thuộc vùng Mỹ Latinh và Caribê; 2 nước thuộc Tây Âu và các nước khác.

Hội đồng bảo an liên hợp quốc

Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

2. Chức năng, quyền hạn:

Là một trong sáu cơ quan chính của Liên hợp quốc, Hội đông Bảo an được thành lập nhằm duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Theo Điều 39 của Hiến chương Liên hợp quốc, Hội đồng Bảo an là cơ quan duy nhất của Liên hợp quốc có quyền quyết định đánh giá thực tại của các mối đe doạ đối với hoà bình, phá hoại hoà bình hoặc hành động xâm lược, và sẽ khuyến nghị hoặc quyết định các biện pháp cần được tiến hành phù hợp với các Điều 41 và 42, để duy trì hoặc khôi phục hoà bình và an ninh quốc tế. Trong khi thực thi chức năng này, Hội đồng Bảo an được coi là hành động với tư cách thay mặt cho tất cả các thành viên Liên hợp quốc. Trên thực tế, những chức năng mà Hội đồng Bảo an được trao có thể được coi là để nhằm 3 mục tiêu: gìn giữ hoà bình, vãn hồi hoà bình và kiến tạo hoà bình.

Trong khi các cơ quan khác của Liên hợp quốc chỉ có thể đưa ra các quyết định mang tính khuyến nghị đối với các chính phủ của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, các quyết định và nghị quyết của Hội đồng Bảo an, theo chương VII Hiến chương, khi đã được thông qua đều mang tính chất ràng buộc và tất cả các thành viên của Liên hợp quốc đều có trách nhiệm phải tôn trọng và thi hành.

Những quyền hạn cụ thể giao cho Hội đồng Bảo an được quy định ở các chương VI, VII, XII của Hiến chương Liên hợp quốc, song những điều khoản quan trọng nhất có liên quan tới việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, đặc biệt là việc giải quyết hoà bình các tranh chấp quốc tế và sử dụng những biện pháp an ninh tập thể cưỡng chế, được quy định cụ thể và chi tiết nhất ở chương VI và VII.

Theo Hiến chương, Hội đồng Bảo an có thể tiến hành điều tra bất cứ một tranh chấp nào hoặc bất cứ một tình thế nào có thể dẫn tới những xung đột quốc tế hoặc đe doạ hoà bình và an ninh quốc tế, và có thể đưa ra những khuyến nghị về các phương thức cũng như nội dung cụ thể để giải quyết những xung đột đó. Những xung đột và những tình huống có khả năng đe doạ hoà bình và an ninh quốc tế có thể do các nước thành viên Liên hợp quốc, Đại hội đồng hoặc Tổng thư ký Liên hợp quốc nêu ra trước Hội đồng Bảo an. Một nước không phải thành viên Liên hợp quốc cũng có thể đưa cuộc tranh chấp, trong đó bản thân nước đó là một bên tham gia tranh chấp, ra trước Hội đồng Bảo an để cơ quan này xem xét giải quyết, với điều kiện là nước đó phải thừa nhận trước là sẽ tuân thủ trách nhiệm giải quyết hoà bình cuộc tranh chấp theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc.

Theo Hiến chương, tất cả các nước thành viên Liên hợp quốc phải cam kết cung ứng cho Hội đồng Bảo an, căn cứ theo những thoả thuận đặc biệt thông qua thương lượng đối với những đề xuất của Hội đồng Bảo an, những lực lượng vũ trang, những trợ giúp và các phương tiện cần thiết khác để duy trì hoà bình và an ninh quốc tế.

3. Cơ cấu:

Hội đồng Bảo an có các uỷ ban và cơ quan phụ trợ sau:

3.1. Các Uỷ ban thường trực: gồm Uỷ ban chuyên gia về các vấn đề thủ tục, Uỷ ban về các cuộc họp của Hội đồng Bảo an không diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc và Uỷ ban về việc kết nạp thành viên mới. Các Uỷ ban này đều có đại diện của các nước thành viên Hội đồng Bảo an.

3.2. Ban Tham mưu quân sự: bao gồm các Tổng chỉ huy quân đội (Chiefs of staff) của tất cả các nước thành viên hoăc đại diện của họ. Chức năng nhiệm vụ của Ban là tư vấn cho Hội đồng về tất cả các vấn đề liên quan đến các yêu cầu quân sự để bảo vệ và duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, việc sử dụng và chỉ huy các lực lượng đặt dưới sự chỉ đạo của Ban, kể cả các qui định về vũ trang, và giải trừ quân bị nếu có thể.

3.3. Uỷ ban chống khủng bố: Uỷ ban này được thành lập theo Nghị quyết 1373 (2001) về một số biện pháp chống lại các mối đe doạ đối với hoà bình và an ninh quốc tế của các hành động khủng bố, nhằm giám sát việc thực hiện nghị quyết này. Các nước thành viên Liên hợp quốc phải trình bản báo cáo về các bước tiến hành để thực hiện Nghị quyết 1373 lên Uỷ ban, lần đầu tiên trong vòng 90 ngày và các lần sau theo thời gian biểu của Uỷ ban. Uỷ ban gồm tất cả 15 thành viên của Hội đồng Bảo an. Uỷ ban thành lập 3 tiểu ban, mỗi tiểu ban do một Phó Chủ tịch Uỷ ban làm chủ tịch, để xem xét sơ bộ bản báo cáo của các nước thành viên.

3.4. Các Uỷ ban cấm vận: hiện nay có 7 Uỷ ban cấm vận là: Uỷ ban Nghị quyết 661 của Hội đồng Bảo an về Irắc, Uỷ ban Nghị quyết 748 về Libi, Uỷ ban Nghị quyết 751 về Somali, Uỷ ban Nghị quyết 918 về Ruanđa, Uỷ ban Nghị quyết 985 về Liberia, Uỷ ban Nghị quyết 1132 về Xiêra Lêôn, Uỷ ban Nghị quyết 1267 về Ápghanixtan.

3.5. Các hoạt động và lực lượng gìn giữ hoà bình: gồm Tổ chức giám sát ngừng bắn ở Trung Đông (UNTSO) (1948), Nhóm quan sát viên quân sự ở Ấn Độ và Pakistan (UNMOGIP) (1949), Lực lượng ở Síp (UNFICYP) (1964), Lực lượng quan sát viên không can dự (UNDOF) (1974), Lực lượng lâm thời ở Libăng (UNIFIL) (1978), Phái đoàn quan sát Irắc-Côét (UNIKOM) (1991)…

3.6. Các lực lượng chính trị và kiến tạo hoà bình: gồm Văn phòng chính trị ở Bougainville (UNPOB) (1998), Văn phòng kiến tạo hoà bình ở Cộng hoà Trung Phi (BONUCA) (1999), Lực lượng trợ giúp ở Ápghanixtan (UNAMA) (2002), Văn phòng đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên hợp quốc về vấn đề Irắc (2003)…

3.7. Các Uỷ ban khác: gồm Uỷ ban đền bù Liên hợp quốc (UNCC) (1991), Uỷ ban giám sát, kiểm tra và thanh tra (UNMOVIC) (1999).

3.8. Các toà án quốc tế:

* Toà án tội phạm quốc tế Ruanđa được thành lập năm 1994 theo Nghị quyết 955 của Hội đồng Bảo an, theo chương VII của Hiến chương để xử các cá nhân phạm tội diệt chủng và các tội ác chống loài người trên lãnh thổ Ruanđa và lãnh thổ các nước láng giềng trong năm 1994.

* Toà án tội phạm quốc tế về Nam Tư cũ thành lập năm 1993 theo Nghị quyết 808 của Hội đồng Bảo an để xét xử các cá nhân chịu trách nhiệm cho các vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế gây ra trên lãnh thổ Nam Tư cũ từ 1991.

3.9. Các tổ chức khác như Cơ quan chỉ huy của Liên hợp quốc tại bán đảo Triều Tiên (UNC) (1950) được thành lập theo Nghị quyết 85 (1950) của Hội đồng Bảo an. Cơ quan này yêu cầu tất cả các thành viên cung cấp lực lượng quân sự ở bán đảo Triều Tiên cho phép đặt các lực lượng này dưới quyền chỉ huy thống nhất của Mỹ. Các đơn vị chiến đấu được đưa đến từ 16 nước, phần lớn là phương Tây, ngoài ra có các nước đang phát triển như Côlombia, Êtiôpia, Philípin, Nam Phi, Thái Lan.

II. Thủ tục hoạt động của Hội đồng Bảo an

Theo Hiến chương, Hội đồng Bảo an phải được tổ chức một cách phù hợp để có thể hoạt động thường xuyên và liên tục nhằm ứng phó với các tình huống liên quan đến hoà bình và an ninh quốc tế có thể đặt ra ở bất cứ thời điểm nào. Hiện tại, hoạt động của Hội đồng Bảo an được tiến hành dựa trên Các qui tắc thủ tục tạm thời (gồm 61 qui tắc) được Hội đồng Bảo an thông qua và liên tục cập nhật tại các phiên họp.

1. Các phiên họp: Các hình thức họp của Hội đồng Bảo an bao gồm họp chính thức, họp kín và trao đổi không chính thức. Hội đồng Bảo an có thể triệu tập phiên họp bất thường (periodic meetings) theo yêu cầu của các quốc gia thành viên Liên hợp quốc hoặc của Tổng thư ký Liên hợp quốc khi có những xung đột hoặc những tình huống có khả năng đe doạ hoà bình và an ninh quốc tế. Một nước không phải thành viên Liên hợp quốc cũng có thể đưa cuộc tranh chấp, trong đó bản thân nước đó là một bên tham gia tranh chấp, ra trước Hội đồng Bảo an để cơ quan này xem xét giải quyết với điều kiện là nước đó phải thừa nhận trước là sẽ tuân thủ trách nhiệm giải quyết hoà bình cuộc tranh chấp theo qui định của Hiến chương Liên hợp quốc. Sau khi nhận được yêu cầu như vậy của các đối tượng trên, Chủ tịch Hội đồng Bảo an sẽ lập tức thông báo cho các nước uỷ viên tình hình trên và tiến hành các thủ tục khác để tổ chức cuộc họp của Hội đồng Bảo an để xem xét vấn đề. Ngoài những cuộc họp thuộc dạng trên, Hội đồng Bảo an còn tiến hành các cuộc họp trên cơ sở thường xuyên (continuous basis) nhằm có thể ứng phó được một cách nhanh chóng những biến chuyển của tình hình và để kiểm phối các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc trên cơ sở các báo cáo của Tổng thư ký Liên hợp quốc.

Các cuộc họp của Hội đồng Bảo an có thể được tổ chức tại trụ sở Liên hợp quốc hoặc ở bất cứ nơi nào ngoài trụ sở mà Hội đồng xét thấy thuận tiện.

* Mỗi uỷ viên Hội đồng Bảo an phải luôn có một đại diện tại Trụ sở Liên hợp quốc. Chức Chủ tịch Hội đồng Bảo an được luân phiên hàng tháng giữa các nước uỷ viên theo thứ tự vần chữ cái của tiếng Anh.

2.Tham gia các phiên họp: Ngoài các thành viên Hội đồng Bảo an, bất cứ thành viên nào của Liên hợp quốc, hay một quốc gia nào không phải thành viên Liên hợp quốc, nếu là đương sự trong vụ tranh chấp mà Hội đồng Bảo an đang xem xét, cũng được mời đến tham dự nhưng không có quyền biểu quyết trong những cuộc thảo luận liên quan đến vụ tranh chấp ấy. Hội đồng Bảo an ấn định những điều kiện mà Hội đồng xét thấy để cho một nước không phải thành viên Liên hợp quốc được tham gia các cuộc thảo luận ấy là hợp lý. Trong các phiên họp kín, chỉ có các nước uỷ viên và các nước mà Hội đồng Bảo an thấy trực tiếp có liên quan hoặc cần thiết phải tham dự mới được tham dự theo thoả thuận chung của thành viên Hội đồng Bảo an.

3. Kết quả phiên họp: Trong tất cả các phiên họp như vậy, Hội đồng Bảo an có thể thông qua những nghị quyết, khuyến nghị, hoặc đơn thuần chỉ là tuyên bố của chủ tịch. Hàng năm, Hội đồng Bảo an còn phải đệ trình lên Đại hội đồng Liên hợp quốc một bản báo cáo về công việc của mình để thành viên Hội đồng xem xét, thảo luận và đưa ra những khuyến nghị.

Để tăng cường tính hữu hiệu và sự rõ ràng trong hoạt động của mình theo yêu cầu của đại đa số thành viên Liên hợp quốc, hiện nay Hội đồng Bảo an đang có những thay đổi trong phương thức hoạt động so với cách làm việc cũ. Hội đồng Bảo an hiện nay đang nỗ lực giảm các cuộc họp kín và trao đổi không chính thức, thông báo chi tiết chương trình nghị sự các cuộc họp của mình trong các nhật trình của Liên hợp quốc. Ngoài ra, thay vì tiến hành các cuộc họp chính thức, Hội đồng Bảo an hiện nay thường thiết lập các nhóm làm việc toàn thể (Working Groups of the Whole) ở mức chuyên viên ở các cấp nhằm soạn thảo các dự thảo nghị quyết và tuyên bố của chủ tịch.

4.Bỏ phiếu: Mỗi thành viên Hội đồng Bảo an có một phiếu. Các quyết định liên quan đến thủ tục được thông qua với số phiếu thuận của ít nhất là 9 trong số 15 thành viên bất kể là thường trực hay không thường trực. Các quyết định về các vấn đề thực chất chỉ được thông qua khi có ít nhất 9 phiếu thuận, trong đó theo Hiến chương phải gồm các phiếu tán thành (concurring vote) của tất cả các nước thành viên thường trực. Điều này có nghĩa là khi Hội đồng Bảo an thông qua các quyết định có liên quan đến việc duy trì hoà bình và an ninh quốc tế, thì cần phải có được sự nhất trí của các nước uỷ viên thường trực, nếu một trong năm nước này bỏ phiếu chống, quyết định sẽ không được thông qua, dù có đạt được đủ 9 phiếu thuận. Đây được gọi là nguyên tắc nhất trí hay quyền phủ quyết của các nước uỷ viên thường trực. Trong thực tế áp dụng qui tắc này, việc một nước uỷ viên thường trực bỏ phiếu trắng, hoặc không tham gia bỏ phiếu, không bị coi là phủ quyết. Bất cứ quốc gia nào, dù là thành viên thường trực hay không thường trực, cũng không được phép tham gia bỏ phiếu về các quyết định có liên quan tới các biện pháp giải quyết tranh chấp mà quốc gia đó là một thành viên tham gia.

5. Quyền phủ quyết (veto): Là việc một nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an có khả năng ngăn cản việc thông qua một nghị quyết không liên quan đến thủ tục bằng một phiếu chống của mình kể cả khi tất cả các nước thành viên khác, thường trực và không thường trực, bỏ phiếu tán thành. Nói cách khác, đây là việc thực hiện nguyên tắc nhất trí giữa năm nước lớn uỷ viên thường trực. Trong suốt quá trình hoạt động của mình với tư cách uỷ viên thường trực, tất cả năm nước này đều đã áp dụng quyền phủ quyết của mình trong đó hai nước Mỹ và Liên Xô (cũ) là những nước sử dụng nhiều nhất. Trên thực tế, không nhất thiết nghị quyết có mang tính thực chất (có liên quan đến thủ tục) nào được thông qua cũng cần phải có đủ năm phiếu thuận của năm uỷ viên thường trực. Nếu như một nước uỷ viên thường trực không ủng hộ hoặc không muốn biểu thị sự ủng hộ của mình đối với một nghị quyết, đồng thời cũng không muốn ngăn cản việc thông qua nghị quyết, nước đó có thể bỏ phiếu trắng hoặc không tham gia bỏ phiếu, hành động này không bị coi là phủ quyết và nghị quyết vẫn được thông qua. Thông thường, các nước uỷ viên Hội đồng Bảo an cố tìm cách dàn xếp trước để nghị quyết có thể được thông qua. Tuy nhiên, đã không ít lần, nhiều nước, cho dù biết trước dự thảo nghị quyết của mình sẽ bị phủ quyết nhưng vẫn đưa ra bỏ phiếu nhằm gây sức ép chính trị/.

Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs Email: [email protected]

5. Cuộc chiến giành quyền nhai lá coca tại Liên Hợp quốc

Hai quốc gia Nam Mỹ Peru và Bolivia đang rục rịch chuẩn bị cho một cuộc chiến, với đối thủ là... Liên Hợp Quốc.

Time cho biết, quyền nhai coca - nguyên liệu thô để sản xuất ra cocain – là tâm điểm của cuộc đối đầu này.

Đối với hàng triệu người dân Bolivia và Peru, lá coca được coi là linh thiêng đối với văn hóa bản địa và là một vị thuốc trong xã hội hiện đại. Nó cũng hệ trọng đối với các quan chức chống ma túy ở Mỹ và các nước khác, bởi họ đang bất lực trong việc ngăn chặn dòng chảy không ngừng của cocain. Silvia Rivera, giáo sư xã hội học tại trường Đại học San Andres của Bolivia, nhận định: “Giờ là lúc đang có cuộc tấn công dữ dội nhất mà người dân Bolivia phải đối mặt” kể từ khi Liên Hợp quốc liệt coca vào một dạng ma túy vào năm 1961.

Bolivia và Peru cho rằng tuyên bố mới nhất từ Ủy ban kiểm soát ma túy quốc tế (INCB) thuộc Liên Hợp Quốc chính là sự sỉ nhục đối với họ. INCB cho rằng người Bolivia và Peru đã phạm pháp khi nhai coca và uống trà làm từ lá cây của nó. Tuyên bố đã làm dấy lên sự giận dữ và gây ra hoàng loạt cuộc biểu tình đường phố trên cả hai quốc gia, đặc biệt là trong cộng đồng người dân bản địa. Đối với họ, cây coca chính là nền tảng cho nền văn hóa kéo dài 3.000 năm của dân tộc, là một phần của cuộc sống giống như cà phê đối với dân Mỹ. La Paz - thủ đô của Bolivia - có lẽ là nơi duy nhất trên thế giới có bảo tàng dành riêng cho cây coca. Từ nông thôn cho đến những khách sạn sang trọng ở thành phố, người ta nhai coca hoặc pha thành trà để xoa dịu cái đói hay sự kiệt sức, hoặc để chống lại cảm giác mệt mỏi mà cuộc sống trên cao ở dãy Andes gây nên.

Ana Maria Chavez – một người chuyên buôn bán coca ở La Paz nói: “Coca cũng được sử dụng bởi các thầy thuốc và trong các nghi lễ tế thần Nó được coi như lá thánh”. Giáo hoàng John Paul II thậm chí đã uống loại trà làm từ lá cây coca trong chuyến viếng thăm Bolivia vào năm 1988. Chavez mô tả nó là “một phần trong con người chúng tôi”.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ coca đã hủy hoại cuộc sống của hàng chục triệu người trên khắp hành tinh. Hoạt động tiêu thụ cocain và nghiện ma túy đang lan tràn khắp các khu vực phát triển như Bắc Mỹ và châu Âu. Trong thập kỷ vừa qua, nước Mỹ đã dành 5 tỷ USD để giúp Colombia xóa sổ hoàn toàn cây coca. Trong khi đó, Washington và Liên Hợp Quốc thì lại muốn Bolivia và Peru phải cắt giảm số vụ mùa coca xuống mức tối thiểu chỉ đủ để phục vụ nhu cầu truyền thống mà thôi. Peru và Bolivia là hai nước sản xuất Coca lớn thứ hai và thứ ba trên thế giới. Vị trí đầu tiên thuộc về Colombia với khoảng hơn 75.000 hecta canh tác, chiếm gần một nửa nguồn cung trên toàn thế giới.

Công ước Liên Hợp Quốc năm 1961 kêu gọi các nước cắt giảm sản lượng coca cho đến cuối những năm 80. Sau đó, một hiệp ước mới ra đời vào năm 1988 lại công nhận những đặc trưng văn hóa của coca và cho phép sử dụng chúng một cách hạn chế tại địa phương. Thế nhưng các lực lượng phòng chống ma túy lại phải thực hiện nhiệm vụ ngăn chặn nỗ lực trồng coca để làm ma túy, phá hủy các phòng nghiên cứu chế biến cocain và ngăn chặn nhưng kẻ buôn thuốc phiện.

Bản báo cáo tháng 2 của INCB kết luận đây không phải việc dễ dàng. Nguyên nhân chủ yếu là mặc dù cuộc chiến chống ma túy ở Mỹ Latinh đã kéo dài hàng chục năm và tiêu tốn hàng tỷ USD, hoạt động sản xuất cocain vẫn được duy trì một cách đều đặn ở mức tối đa. Theo báo cáo của INCB thì việc tiêu thụ những chiếc lá sống hay chưa được chế biến chính là hành động tiếp tay cho “sự lệ thuộc vào ma túy”.

Những người chỉ trích bản báo cáo đó cho rằng kết luận trên là một suy luận ngớ ngẩn, bởi chẳng có một bằng chứng được công bố nào chứng minh được rằng lá coca có độc tố hay gây nghiện. Người đầu tiên phản đối là Avo Morales - tổng thống thuộc cánh tả ở Bolivia. Morales đứng đầu một trong số những hiệp hội trồng coca lớn nhất cả nước. Ông được bầu là nguyên thủ quốc gia của Bolivia vào năm 2005 một phần vì lên tiếng bảo vệ loại lá này. Trong cuộc họp tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc vào cuối năm ngoái, ông đã đứng giữa phòng họp, tay giơ cao một chiếc lá coca và nói : “Chiếc lá này đại diện cho hy vọng của cả dân tộc tôi”.

Bolivia cung cấp khoảng 17% lượng coca trên toàn thế giới và ông Morales từng hứng chịu không ít những lời cáo buộc của cộng đồng quốc tế vì duy trì việc trồng coca. Mỹ cho rằng việc so sánh coca, cocain như táo, cam của ông là không trung thực; còn giới phân tích lại cho rằng bất chấp những nỗ lực của chính phủ, phần lớn lượng coca trồng ở Bolivia đều rơi vào tay các tổ chức tội phạm buôn lậu ma túy.

Morales đã giúp các chuyên gia kêu gọi một cuộc “tái định giá lá cây coca”. Các nhà xã hội học cho biết: “Rất nhiều người đã khám phá ra tác dụng cả về dinh dưỡng và y học của chúng”.

Cuộc chiến giành quyền nhai lá coca tại Liên Hợp quốc
Người dân Bolivia tham gia "Ngày nhai lá coca". Ảnh: Martin Alipaz.

Nhiều nghiên cứu khoa học - bao gồm cả một công trình đã được công bố của Đại học Harvard, Mỹ - chỉ ra rằng coca sống chứa rất nhiều protein, canxi, sắt và cả vitamine. Vì vậy, tổng thống Moles đã khuyến khích các ngành công nghiệp địa phương chế biến coca thành mọi thứ - từ bột mì cho đến kem đánh răng, dầu gội và cả thuốc chữa bệnh. (Năm ngoái ông đã gửi một chiếc bánh coca làm quà chúc mừng sinh nhật lần thứ 80 của tổng thống Fidel Castro).

Thậm chí ngay cả khi INCB đang chuẩn bị công bố báo cáo, chính phủ Bolivia vẫn bày tỏ mong muốn được nâng mức giới hạn trồng coca từ 12.000 héc ta lên 20.000 héc ta. Nội các của tổng thống Mỹ George W. Bush từng cảnh cáo rằng động thái này của Bolivia vi phạm nghiêm trọng các thỏa thuận quốc tế và không thống nhất với các cam kết của Bolivia, làm lãng phí hàng chục triệu USD hỗ trợ của Mỹ.

Dường như không hề nao núng, Bolivia nói họ sẽ đầu tư 300.000 USD để phát triển các thị trường coca hợp pháp mới. Và chẳng ai ngạc nhiên khi phái đoàn Bolivia chính là những người đầu tiên kêu gọi sự “phản đối mạnh mẽ” đối với những khuyến cáo của INCB trong cuộc họp thường niên ở Vienna, Áo vào tuần này. Họ cũng đưa ra lời đề nghị gỡ bỏ coca ra khỏi danh sách các chất ma túy của Liên Hợp Quốc. Đây là việc khó có khả năng xảy ra.

Vấn đề đặt ra là liệu Liên Hợp Quốc có chấp nhận lời đề nghị của INCB - liệt tất cả các hoạt động sử dụng và thương mại hóa coca không có chất gây nghiện của Bolivia và Peru là phạm pháp – hay không. Hay nói cách khác, điều này rất có thể sẽ khiến cho Liên Hợp Quốc kêu gọi cấm vận coca.

Rất nhiều người Bolivia nói rằng họ không quan tâm. “Ông tôi, bà tôi đều bán coca và tôi cũng làm công việc này 48 năm rồi”, Josefina Rojas- một người bán coca ở La Paz cho biết “Dù có chuyện gì xảy ra thì chúng tôi cũng sẽ không để họ mang coca đi đâu hết”.

(LUATMINHKHUE.VN: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)