1. Đặt vấn đề

Trong giai đoạn suốt 25 năm khi hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam chưa được pháp điển hóa (1960-1985), thực tiễn xét xử với tư cách là một trong những nguồn của pháp luật hình sự nước nhà đã đóng vai trò to lớn và quan trọng góp phẩn xây dựng và hình thành nên ngành luật này ở Việt Nam cho đến tận thời điểm ban hành Bộ luật Hình sự đầu tiên của đất nước Việt Nam (vào năm 1985).

Đối với trong giai đoạn hơn 35 năm tiếp theo, chính xác là từ năm 1985 đến nay. Từ giai đoạn này, đối với sự hình thành (1), phát triển (2) và tiếp tục phát triển (3) của hệ thống pháp luật hình sự thực định đã được pháp điển hóa lần lượt trong ba Bộ luật Hình sự, đó là Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam năm 1985, Bộ luật Hình sự vào năm 1999, và Bộ luật Hình sự năm 2015.

Vậy cho đến hiện nay thì thực tiễn xét xử Việt Nam có vai trò như thế nào? Có thể khẳng định rằng, nội hàm của vấn đề này lần lượt đã và đang được thể hiện thông qua hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao (với tư cách là cơ quan xét xử cao nhất thực hiện quyền tư pháp của Việt Nam) theo hai hướng chủ yếu, đó là: Tiếp tục ban hành những giải thích (hướng dẫn) thông nhất có tính chất chỉ đạo trong việc (gọi tắt là “hướng dẫn”) áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự đã được pháp điển hóa thông qua các văn bản của Tòa án nhân dân tối cao và các thông tư liên ngành (mà từ ngày 31/12/1996 từ “ngành” đã được thay bằng từ “tịch” giữa Tòa án nhân dân tối cao với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương, cũng như bắt đầu triển khai công việc xây dựng và phát triển án lệ bởi cơ quan thực tiễn xét xử cao nhất của đất nước là Tòa án nhân dân tối cao.

Dưới đây chúng ta sẽ phan tích về vai trò của thực tiễn xét xử trong việc hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật hình sự thực định từ sau khi pháp điển hóa lần thứ nhất đến khi pháp điển hóa lần thứ hai (1985-1999).

Tuy nhiên cụ thể trong bài viết này chúng ta chỉ đang nghiên cứu và tìm hieery về những khái quát chung nhất về ....

2. Vai trò thực tiễn xét xử trong việc hình thành và phát triển, chức năng xét xử

Cần lưu ý rằng, việc nghiên cứu thực tiễn xét xử giai đoạn từ sau khi thông qua Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam vào năm 1985 đến nay cho phép khẳng định một cách chắc chắn rằng, trong thời kỳ 30 năm từ sau khi pháp luật hình sự của Việt Nam đã lần lượt được pháp điển hóa lần thứ nhất vào năm 1985, lần thứ hai vào năm 1999, cũng như lần thứ ba vào năm 2015, thì bằng các luận điểm của thực tiễn xét xử thông qua những giải thích cũng như những hướng dẫn thống nhất có tính chất chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao đã cho thấy rằng điều đó rất rõ vai trò quan trọng của thực tiễn xét xử trên khía cạnh thứ ba đã nêu trên - trong việc tiếp tục phát triển để không ngừng hoàn thiện pháp luật hình sự.

Vì thực tiễn lập pháp hình sự với việc thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa qua đã cho thấy, do vẫn còn tồn tại một số hạn chế về mặt kỹ thuật lập pháp nên trong tương lai rõ ràng là pháp luật hình sự Việt Nam cũng cần phải tiếp tục được hoàn thiện hơn nữa.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong suốt chiều dài 35 năm qua sau khi pháp luật hình sự của đất nước thống nhất đã được pháp điển hóa lần thứ nhất vào năm 1985 cho đến giai đoạn đương đại từ đầu thế kỷ XXI đến nay là năm 2021, cho thấy thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tối cao vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng và to lớn trong việc tiếp tục phát triển pháp luật hình sự thực định mà nó chính là những minh chứng xác đáng không thể phủ nhận cho luận điểm nêu trên về vai trò quan trọng này của thực tiễn xét xử tại cơ quan tư pháp cao nhất của Việt Nam.

Như đã biết, chức năng xét xử của Toà án quyết định các nhiệm vụ cụ thể của Toà án trong các hoạt động của mình. Bởi vậy, Toà án không thể và không được thực hiện các nhiệm vụ không thuộc về chức năng tố tụng của mình. Khi thực hiện chức năng xét xử, Toà án có trách nhiệm phải làm sáng tỏ tất cả các tình tiết của vụ án (bao gồm cả các tình tiết buộc tội, các tình tiết gỡ tội hoặc giảm nhẹ trá h nhiemj hình sự đối với bị cáo) nhưng không phải để buộc tội hay bào chữa đối với bị cáo mà nhằm thực hiện chức năng xét xử - xác định sự thật khách quan và ra quyết định đúng đắn về vụ án. Nếu Toà án tham gia thục hiện cả chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa thì vai trò trọng tài, người cầm trịch giữa hai bên sẽ mất đi và Toà án sẽ trở thành một công tố viên hay một luật sư "thứ hai” trong tranh tụng. Điều đó sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa và mục đích xác định sự thật về vụ án không thể đạt được:"Trong phiên toà hình sự, thì quan toà, chưởng lý và trạng sư bào chữa được kết hợp vào một con người. Sự kết hợp này mâu thuẫn với tất cả những quy luật cùa khoa tâm lý học”.

Với vai trò là trọng tài giữa bên buộc tội và bên bào chữa, Toà án phải có thái độ vô tư, khách quan và công minh. Các thành viên hội đồng xét xử phải quan tâm ở mức độ như nhau đối vói tất cả những nguời tham gia phiên toà (Công tố viên, luật sư bào chữa, bị cáo, người bị hại,..) và có thái độ khách quan, không thiên vị đối với các chứng cứ, các yêu cầu, đề nghị của các bên đưa ra cũng như đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật dành cho họ. Toà án khồng được phép định kiến đối với bất cứ bên nào và cũng không thể bị ràng buộc bởi bất cứ một yêu cầu, đề nghị hoặc ý kiến của bất kỳ ai:"Đối với quan toà, thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp".

3. Số lượng văn bản được ban hành và áp dụng

Theo tác giả GS.TSKH. Lê Cảm trong cuốn "sách chuyên khảo 75 năm hình thành, phát triển của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam và định hướng tiếp tục hoàn thiện (1945-2020)" tác giả này đã đưa ra.

Theo thống kê của tác giả trong cuốn sách này (chỉ đơn giản về số lượng đầu vàn bản), thì trong 03 thập kỷ qua (kể từ sau khi thông qua Bộ luật Hình sự năm 1985 đến trước ngày 27/11/2015 là ngày thông qua Bộ luật Hình sự thứ ba của Việt Nam): cơ quan tư pháp cao nhất của Việt Nam đã trực tiếp (tự mình) ban hành (1) và phối hợp cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương ban hành (2) tổng cộng khoảng gần 90 văn bản pháp luật và văn bản dưới luật (riêng loại văn bản sau thì bao gồm cả chỉ thị, công văn của Tòa án nhân dân tối cao) liên quan đến việc hưống dẫn áp dụng pháp luật hình sự.

4. Văn bản pháp luật được sử dụng

Theo tác giả GS.TSKH. Lê Cảm trong cuốn "sách chuyên khảo 75 năm hình thành, phát triển của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam và định hướng tiếp tục hoàn thiện (1945-2020)", trong hơn 14 năm (từ 01/01/1986 đến 01/7/2000 là ngày Bộ luật Hình sự của năm 1999 bắt đầu có hiệu lực pháp luật) việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam vào năm 1985 đã có rất nhiều văn bản pháp luật hình sự đã đề cập (ở các mức độ khác nhau) việc áp dụng các quy phạm của Bộ luật Hình sự đầu tiên này của đất nước đã thống nhất, mà cụ thể là:

- Thứ nhất, có 60 văn bản do Tòa án nhân dân tối cao trực tiếp ban hành, trong đó bao gồm 06 văn bản pháp luật hình sự với 05 nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán, 01 thông tư và 24 văn bản dưối luật với 04 chỉ thị và 20 công văn của Tòa án nhân dân tối cao;

- Thứ hai, gồm có 27 văn bản pháp luật hình sự liên ngành do Tòa án nhân dân tối cao chủ trì cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương ban hành, trong đó bao gồm 20 thông tư liên ngành trong 11 năm 1985 đến năm 1996, 03 thông tư liên tịch trong ba năm từ năm 1996 đến năm 1998 và 01 thông báo liên ngành. Và chính là bằng các luận điểm của thực tiễn xét xử tại các văn bản này mà những giải thích (hướng dẫn) thống nhất có tính chất chỉ đạo về áp dụng các quy phạm của Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt nam vào năm 1985 cũng như của Bộ luật Hình sự của năm 1999 sau này đã được Tòa án nhân dân tối cao (và trong nhiều trường hợp là Tòa án nhân dân tối cao cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương) đưa ra để góp phần giúp và tạo điều kiện cho các Tòa án và các cơ quan bảo vệ pháp luật các cấp trên cả nước áp dụng chính xác pháp luật hình sự.

Tuy nhiên, tại hai khoản 5 và 6 tương ứng dưới đây tác giả chỉ viện dẫn ra theo thứ tự thời gian một số văn bản pháp luật chủ yếu là theo hai nhóm, đó là các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tôi cao (1) và số lượng thông tư liên ngành do Tòa án nhân dân tối cao chủ trì cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật ở trung ương (2) đã được ban hành để giải thích (hướng dẫn) việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam vào năm 1985 nhằm qua đó minh chứng cho vai trò quan trọng của thực tiễn xét xử trong việc tiếp tục phát triển pháp luật hình sự nước nhà kể cả sau khi nó đã được pháp điển hóa lần thứ nhất.

5. Phạm vi được xem xét

Vì nội hàm của hai nhóm văn bản trên ở các mức độ khác nhau đều có đề cập những giải thích (hướng dẫn) thống nhất có tính chất chỉ đạo trong việc áp dụng các quy phạm của cả 02 Bộ luật Hình sự, đó là Bộ luật Hình sự đầu tiên của Viejt nam vào năm 1985 và Bộ luật Hình sự của năm 1999.

Do vậy, để góp phần nhận thấy rõ vai trò quan trọng của thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tối cao trong hơn 75 năm tiếp tục phát triển pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa từ năm 1985 đến ngày nay nên chúng ta cần lần lượt xem xét cụ thể, nhưng như đã nêu trên.

Trân trọng!