1. Vay lãi suất 2000 đồng/1 triệu/1 ngày có phải cho vay nặng lãi ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Gia đình tôi có cho vay với lãi suất là 2000 đồng/ 1 triệu/ 1 ngày. Tôi muốn hỏi mức lãi suất đó có thể cho là cho vay nặng lãi không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: G.L

Vay lãi suất 2000 đồng/1 triệu/1 ngày có phải cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về lãi suất gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo thông tin bạn đưa ra thì đây là hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015 như sau:

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm.Vậy theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 thì chỉ được áp dụng mức lãi suất cao nhất với khoản tiền bạn cho vay là: 9%/năm x 150% = 13,5%/năm.

Hợp đồng vay tiền với số tiền cho vay là 1 triệu VND thì mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận khi vay tiền là:

+ Số tiền lãi suất năm là: 1 triệu x 150 % = 135.000/năm

+ Tương ứng là 11.250 VND /tháng và 370 VND/ngày

Như vậy, bạn đã cho vay với mức lãi suất cao hơn theo quy định của Bộ luật dân sự 2015. Vậy nên khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật sẽ không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bạn với phần lãi suất vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 quy định như sau:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Như vậy, trong trường hợp của bạn bạn cho vay với mức lãi suất cao hơn 5,4 lần so với mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định nên bạn thỏa mãn điều kiện trên.Tuy nhiên bạn phải thu lời bất chính từ 30.000.000 VNĐ - 100.000.000 VNĐ thì mới cấu thành tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự.

Bạn có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hành chính về hành vi vi phạm của mình theo quy định tại Khoản 3 Điều 11 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình:

"Điều 11.Vi phạm các quy định về quản lí ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự:

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong số những hành vi sau đây:

d, Cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay "

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

2. Cho vay với mức lãi suất 42%/năm thì có phạm tội cho vay nặng lãi không ?

Thưa luật sư, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Tháng 5/2018 lãi suất NH là 14%/năm , tôi cho vay với lãi suất 3,5%x12= 42%/năm thì theo các quy định về luật có bị coi là cho vay nặng lãi không? - Trường hợp mà người vay đã làm giấy vay tiền mà không có khả năng trả tiền cho mình, cứ khất lần, thì nên làm gì? Đưa ra truy tố Cơ quan công an kinh tế tội "lừa đảo chiếm đoạt tài sản"? Và nếu phải thuê luật sư thì tổng chi phí đó là bao nhiêu toàn bộ 1 vụ đó? Có chắc thắng kiện không? Và do đó có chắc được nhận lại các chi phí tôi bỏ ra không?
Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê!
Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: Tinh Ngoc

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Tư vấn về hoạt động cho vay nặng lãi ?

Tư vấn về hoạt động cho vay nặng lãi - Ảnh minh họa

Trả lời:

Thứ nhất, theo như bạn trình bày thì việc cho vay tiền với lãi như bạn đưa ra sẽ thuộc vào trường hợp cho vay nặng lãi. Căn cứ khoản 1 Điều 468 Bộ Luật dân sự 2015 quy định: " Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.".

Đối với trường hợp này, tùy theo tính chất và mức độ của hành vi cho vay nặng lãi mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

+ Về xử lý hành chính: Căn cứ Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt đối với hành vi cho vay nặng lãi.

"Điều 11: Vi phạm các quy định về quản lý ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tư:

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Hoạt động kinh doanh ngành, nghề có điều kiện về an ninh, trật tự mà không có giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự;

b) Sửa chữa, tẩy xóa giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự;

c) Không duy trì đúng và đầy đủ các điều kiện về an ninh, trật tự trong quá trình hoạt động kinh doanh;

d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay”.

+ Trường hợp bị xử lý hình sự quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Một là: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo quy định của khoản 1 Điều 468 Bộ Luật Dân sự 2015 về lãi suất thì lãi suất vay do các bên thỏa thuận không được vượt quá 20% khoản tiền vay, nếu lãi suất cho vay gấp 05 lần mức lãi suất này thì có dấu hiệu của tội cho vay nặng lãi.

Hai là: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Căn cứ vào những quy định này, bạn có thể xác định mức hình phạt của mình khi thực hiện hành vi cho vay nặng lãi.

Thứ hai, trong trường hợp bạn cho vay mà bên vay không trả lại tiền, có giấy tờ, chứng cứ chứng minh có việc vay mượn. Thì có thể kiện người này về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay không? Bạn cần căn cứ vào Bộ Luật hình sự 2015

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Dấu hiệu của tội:

Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

- Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

+ Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

+ Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

+ Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dânsự

- Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

Mặt chủ quan: Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Tuy nhiên cần lưu ý:

Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Chủ thể: Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

Bạn cần căn cứ vào những dấu hiệu này, bạn có thể khởi kiện bên vay tiền về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay không?

Trân trọng cám ơn!

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN:

3. Tư vấn về việc vay nặng lãi và đòi nợ thuê ?

Chào luật sư. tôi có vay nợ của nhiều người tiền lời có người lấy tới 300%. Có người lấy 200%. Có người lấy 150%.Tôi đồng lời đầy đủ, tối ngày 03 tháng 08 tôi phải đi coi bệnh vì bà tôi nằm viện hóa trị tại bệnh viện Đồng Nai chồng tôi đi làm không có ai ở nhà. Đêm 03 tháng 08 họ mở cửa vào nhà tôi lấy hết đồ đạc, vải vóc, quần áo, bếp gas, bình gas,không còn thứ gì trong nhà.
Và tôi đã đồng ý cho thỏa thuận tôi lấy đồ về và không trụy cứu trách nhiệm hình sự. Còn số tiền nợ tôi đồng ý thương lượng trên giấy tờ để trả từ từ. Nhưng về nhà bên cho vay đã không thực hiện như lời hứa ở trước cơ quan công an xã.mà còn thuê xã hội đen đến đòi và đe dọa, trong lúc 2 thanh niên tới đòi nợ tôi không biết 2 thanh niên đó là ai,họ nói họ được ủy quyền đòi nợ có công chứng. Vậy xin hỏi luật sư tới tôi phải làm gì để được bảo đảm tính mạng cũng như công việc tôi đang làm.trong khi 2 thanh niên đó đến nhà. Tôi có điện thoại cho phó Công An xã là anh D nhưng không thấy tăm hơi đâu hết.
Vậy xin hỏi luật sư tôi phải nhờ tới cơ quan nào can thiệp?
Tôi xin cảm ơn!

Tư vấn về việc vay nặng lãi và đòi nợ thuê ?

Luật sư tư vấn Luật Hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào anh! Cảm ơn anh đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà anh đang thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo quy định tại Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 về tội cho vay nặng lãi thì:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về lãi suất cho vay:

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ."

Theo quy định của Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước thì mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm . Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng.

Người cho bạn vay tiền sẽ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi cho vay tiền mà mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định là gấp 10 lần mức lãi suất mà pháp luật cho phép, tức là quá 10 x 1,125% = 11,125%/tháng.

Trong trường hợp của bạn, bạn vay số tiền của những người trên với mức lãi suất 300%/tháng, 200%/tháng, 150%/tháng thì đây bị coi là cho vay lãi nặng. Trường hợp này, những người phạm tội có thể bị phạt tiền gấp mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm.

Lúc này, để bảo vệ quyền lợi cho mình, bạn có thể làm đơn tố cáo tội phạm về tội cho vay lãi nặng của những người kia đến cơ quan công an. Tuy nhiên, khi giải quyết vụ án, bạn vẫn sẽ phải trả nợ cho chủ nợ, bao gồm: tiền gốc + tiền lãi (với mức lãi suất là 1,125%tháng), bởi đó được xem là nghĩa vụ dân sự trong vụ án hình sự.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

4. Tư vấn về việc cho vay nặng lãi ?

Xin chào luật sư, Luật sư cho tôi hỏi, tôi vay 4 triệu đồng từ tháng 3 lãi suất 40%/tháng, đến tháng 8 là lãi suất 10 ngày là 15%, đến hôm nay số tiền lên tới 50 triệu đồng, bên cho vay còn có hành vi hăm dọa đến tính mạng của tôi, cho tôi hỏi như vậy có được gọi là cho vay nặng lãi và hành vi như vậy có được coi là đe dọa đến tính mạng, và tôi có quyền khởi tố hay không?
Tôi cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Quy định pháp luật dân sự về mức lãi suất cho vay:

Trước hết, cần phải xác định

"Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Trong đó, vấn đề lãi suất được quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

"Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ."

Theo Điều 1 của Quyết định 2174/QĐ-NHNN năm 2014 về mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ lĩnh vực, ngành kinh tế theo quy định tại Thông tư 08/2014/TT-NHNN do Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam ban hành . Mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam theo quy định tại Thông tư số 08/2014/TT-NHNN ngày 17 tháng 3 năm 2014 như sau: 1. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (trừ Quỹ Tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô) áp dụng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam là 7%/năm. 2. Quỹ tín dụng nhân dân và Tổ chức tài chính vi mô áp dụng mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam là 8%/năm.

Theo quy định này thì có thể xác định được mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận khi cho vay tiền là:

+ Mức lãi suất năm: 8 x 150% = 12%/năm

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo tháng: 12 : 12 = 1 %/tháng.

+ Tương ứng mức lãi suất tính theo ngày: 12: 365 = 0,033%/ngày (làm tròn chữ số thập phân thứ 3)

Trên đây là cách tính lãi suất dựa trên tỷ lệ phần trăm, tuy nhiên trên thực tế, nhiều giao dịch cho vay tính ra số tiền lãi cụ thể:

Thứ hai: Hậu quả pháp lý đối với hợp đồng vay tài sản có mức lãi suất vi phạm pháp luật dân sự

Nếu trong hợp đồng vay tài sản, các bên có thỏa thuận về mức lãi suất vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Tức là nếu các bên khởi kiện ra tòa, tòa án sẽ tuyên vô hiệu đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của ngân hàng và chỉ yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ trả lãi ở mức lãi suất tối đa theo quy định pháp luật (150% lãi suất cơ bản của ngân hàng).

Thứ ba: Chế tài áp dụng đối với hành vi cho vay tài sản với mức lãi suất cao.

+ Truy cứu trách nhiệm hình sự:

Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Theo như tính toán đã nêu trên thì mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận áp dụng với hợp đồng vay tài sản là 13,5%/năm. Nếu cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất này từ 05 lần trở lên thì đã thỏa mãn dấu hiệu này.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

+ Xử phạt vi phạm hành chính:

Điểm d khỏa 3 Điều 11 Nghị định Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình có quy định:

Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay.

Như vậy, đối với hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản, lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay, nhưng chưa nghiêm trọng tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ tư, về việc người cho vay hăm dọa đến tính mạng của bạn

"Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác."

Hành vi đe dọa này có thể thực hiện qua điện thoại, tin nhắn, email, lời nói, cử chỉ… đã làm tâm lý người bị đe dọa lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện và căn cứ này phát sinh từ phía người bị đe dọa.

Như vậy:

- Nếu bạn mới chỉ bị hăm dọa đến tính mạng nhưng người hăm dọa chưa có hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng nên chưa chưa cấu thành tội phạm và chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự

- Còn nếu bạn bị đe dọa bị giết và bạn có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện thì hành vi đe dọa giết bạn của người cho bạn vay tiền sẽ cấu thành tội phạm đe dọa giết người

Để bảo vệ quyền lợi của mình, bạn và gia đình có quyền làm đơn tố cáo hành vi của nhóm người này gửi đến ủy ban xã, phường nơi cư trú hoặc cơ quan công an cấp quận/ huyện để đề nghị có biện pháp đề phòng và xử lý.Còn nếu hành vi của họ cấu thành tội đe dọa giết người theo Điều 103 của Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 thì bạn cũng có thể làm đơn tố cáo/ hoặc đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự tới cơ quan công an cấp Quận/ Huyện để họ xử lý và giải quyết theo pháp luật.( lưu ý đơn tố cáo/ hoặc đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự bạn cần chú ý các căn cứ/ bằng chứng của sự việc đe dọa nêu trên.

Trân trọng./.

5. Vay với lãi suất 2.91% có phải cho vay nặng lãi không ?

Thưa luật sư, Hiện em có vay một ngân hàng số tiền là 63 triệu đồng. Trong hợp đồng ghi lãi suất là 2.91% nhưng em phải trả góp trong vòng 36 tháng. Mỗi tháng là 2.850.000 tính như vậy là có phải cho vay nặng lãi không ? Em muốn kiện ra tòa thì có được không ?
Mong luật sư tư vấn giúp em.

Luật sư tư vấn:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì bạn có vay ngân hàng 63 triệu với lãi suất 2,91%, mỗi tháng trả 2.850.000 và bạn có thắc mắc ngân hàng cho vay như vậy có phải là cho vay nặng lãi không. Đối với trường hợp này, chúng tôi có khá nhiều bài viết liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Tội cho vay nặng lãi

Lãi suất 6%/tháng có phải cho vay nặng lãi ?

Cho vay với lãi suất 2,5%/tháng có bị coi là cho vay nặng lãi ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Thế nào là thu lợi bất chính lớn khi xác định tội cho vay nặng lãi ?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một thắc mắc như sau: Theo quy định tại Điều 201 BLHS 2015 thì người có hành vi thu lợi bất chính lớn từ việc cho vay nặng lãi sẽ bị phạt tiền hoăc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Vậy cho tôi hỏi thế nào là thu lợi bất chính lớn ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thế nào là thu lợi bất chính lớn khi xác định tội cho vay nặng lãi ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Điều 201 Bộ luật hình sự 2015 quy định như sau:

" Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Hiện nay, pháp luật hình sự không có một quy định cụ thể nào về yếu tố “thu lợi bất chính lớn” của tội cho vay nặng lãi quy định tại Điều 201 BLHS. Tuy nhiên, pháp luật hình sự cũng quy định một số trường hợp coi là thu lợi bất chính lớn cho các tội danh cụ thể.

Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP có hướng dẫn về yếu tố “thu lợi bất chính” khi xác định tội “tổ chức đánh bạchoặc gá bạc” như sau:

“3. “Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn” được xác định như sau:

a) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 30.000.000 đồng là thu lợi bất chính lớn.

b) Thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 90.000.000 đồng là thu lợi bất chính rất lớn.

c) Thu lợi bất chính từ 90.000.000 đồng trở lên là thu lợi bất chính đặc biệt lớn.”

Như vậy, để xác định yếu tố “thu lợi bất chính lớn” có thể thực hiện theo những hướng dẫn tại quy định trên. Theo đó, thu lợi bất chính từ 10 triệu trở lên được coi là thu lợi bất chính lớn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê