Tình huống:

Kính chào luật sư, tôi có 1 vấn đề như sau mong được luật sư tư vấn và xác định vấn đề giúp tôi: 6 năm trước tôi có quan hệ tình cảm với 1 người, khi đó tôi làm ăn khó khăn sinh nợ nần phải đi thuê nhà lánh nợ, người đó có tự nguyên đưa cho tôi 100 triệu để thuê nhà có sự làm chứng của 2 ng khác, sau đó 1 thời gian chuyện tình cảm của tôi có trục trặc do người ấy giấu tôi làm nhiều điều khuất tất để tôi biết đc và đã tự bỏ đi không dám nhìn mặt tôi, tôi có nói là tôi ghi nhận những gì ng đó giúp và coi như là tôi vay số tiền đó, có cơ hội sẽ trả. Đến nay tôi làm ăn thua lỗ triền miên vẫn chưa có cơ hội trả được, bản thân rất áy náy và có trình bày tình trạng làm ăn cho người đó hiểu và mong được thông cảm, hôm trước tôi có về Hà Nội ít ngày và người đó hẹn gặp để nói chuyện về việc này, tôi vui vẻ ra gặp và không ngờ là người đó dẫn theo vài anh em giang hồ đến quay phim ghi hình và bắt tôi hẹn ngày trả cụ thể, nói là tôi vay số tiền đó và nếu không sẽ đến nói chuyện với những người thân của tôi, vì bần cùng nên tôi có hẹn cho tôi thu xếp đến cuối năm, bên đó đồng ý và tắt máy ghi hình rồi nói nếu đến ngày đó tôi không trả sẽ đăng toàn bộ lên mạng xã hội và đến gặp gia đình. Vậy trước sự việc như vậy mong luật sư tư vấn cho tôi, tôi rất hoang moang mấy ngày nay. Mong được luật sư tư vấn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Dân sự 2015;

- Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017;

2. Luật sư tư vấn:

2.1 Xử lý khoản vay

Căn cứ Điều 119, Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản và hình thức của giao dịch dân sự như sau:

>> Xem thêm:  Chứng minh trong tố tụng hình sự là gì ? Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự ?

“Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

“Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Như vậy, Việc anh và người yêu cũ thống nhất với nhau số tiền 100 triệu đồng là khoản tiền anh vay thì giữa anh và cô ấy đã xác lập thỏa thuận một hợp đồng vay bằng miệng. Do đó anh sẽ có nghĩa vụ thanh toán số tiền trên cho cô ấy.

2.2 Vấn đề trách nhiệm Hình sự

Căn cứ Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 100

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Như vậy, Trước hết bản chất giao dịch của anh là hợp đồng vay dân sự nên nếu như anh không trả tiền cho cô ấy. Cô ấy có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu anh trả nợ.

Trường hợp anh có khả năng trả nhưng cố tình trốn tránh không muốn trả lại tiền hoặc cố tình bỏ trốn thì cô ấy có thể làm đơn gửi ra cơ quan công an tố cáo anh về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo hướng Hình sự. Trường hợp này sau khi nhận được đơn tố giác của bạn gái cũ của anh cơ quan cảnh sát điều tra phải tiến hành xác minh và kiểm tra thông tin để xác định đã đủ yếu tố cấu thành tội dung Hình sự hay chưa?

2.3 Vấn đề tung đoạn video đã quay lên mạng xã hội

Cá nhân được quyền bảo hộ về hình ảnh theo quy định tại Điều 32, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

“Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.”

Bên cạnh đó Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015 quy định mức bồi thường khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại như sau:

“Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Đồng thời Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội Làm nhục người khác như sau:

“Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%75.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên76;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Mức xử phạt Hành chính được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP.

>> Xem thêm:  Phân tích một số sai lầm thường gặp khi áp dụng luật hình sự ? Cho ví dụ

“Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;”

Như vậy, Dù anh có nợ người yêu cũ số tiền 100.000.000 đồng. Cô ấy cũng không được phép phát tán hình ảnh cá nhân của anh và bôi nhọ danh dự nhân phẩm của anh lên mạng xã hội vì như vậy là hành vi làm nhục người khác sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định trên hoặc bị truy cứu trách nhiệm Hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành.

Tuy nhiên nếu anh có khả năng trả mà cố tính không trả hoặc bỏ trốn thì cô ấy có thể gửi đơn tố giác anh ra cơ quan công an về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do đó anh sắp xếp trả lại số tiền cho người yêu cũ để tránh gặp phải các hậu quả pháp lý bất lợi có thể bị gặp phải.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tố tụng hình sự là gì ? Phân tích nhiệm vụ của luật tố tụng hình sự ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Các hình thức của giao dịch dân sự?

Trả lời:

1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Câu hỏi: Hợp đồng vay có phải lập thành văn bản?

Trả lời:

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Do đó không bắt buộc lập thành văn bản.

Câu hỏi: Mức xử phạt hành chính khi đưa thông tin sai sự thật lên mạng xã hội?

Trả lời:

Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân lên mạng xã hội.